Và lần ấy bỗng nhiên ông bắn được con hổ lớn. Nói rằng bỗng nhiên là vì con hổ tự nó dẫn xác vào vườn ông Hữu, lại còn ung dung đón nhận hai viên đạn, và từ tốn ngã xuống bên hàng rào: không làm gãy một cây sắn, không làm rách một lá chuối, cũng không gây một tiếng động nào.
Sau hai phát súng,* ông Hữu trở vào nhà, lên phản ngồi xếp bằng tròn, gật gù. Ông Hữu vốn có cái đầu thót dần lên trên, tóc húi cua dựng đứng, hai vành tai ép sát vào sọ, trán ngắn và hẹp, cằm bạnh và dô. Ông có cái cổ khỏe và đôi vai đầy hơi xuôi. Khi ông ngồi xếp bằng trông như cỗ oản lớn. Khi đi trong rừng chúi người về phía trước trông ông như con gấu.
Ông Hữu ít khi cười. Lần này ông có nhếch mép: cũng khó đoán là cười hay mếu. Có thể là cười nếu ông cho rằng vận đỏ đang đến. Có thể là mếu nếu ông coi mấy phút trước đây tử thần cách ông chỉ còn dăm thước với hai con mắt xanh lè và hai hàm răng vàng khè.
Người nhà kéo con hổ về. Dân làng xúm đen xúm đỏ. Cả em nhỏ và cụ già. Cả cụ ông và cụ bà. Cả những bậc thợ săn lão luyện mà số thú bắn được không thể nhớ hết. Một cụ già vơ vội bó đuốc đốt cháy bộ râu con hổ. Đám đông truyền nhau: - Râu mép hổ làm thuốc độc*. Một cụ khác xác nhận con hổ này được sáu vỗ**. Thanh niên llấy thước tây đo chiều dài tà đầu đến mông được một mét sáu. Ai cũng trầm trồ, dễ có mấy chục năm chưa thấy con hổ nào lớn đến vậy. Người ta sờ móng, xem tai, xem lưỡi. Có người nói ccọ hổ này đã ăn thịt một người rồi vì tai của nó có một vết xước. Bao nhiêu vết xước trên tai là bấy nhiêu người bị ăn thịt. Con hổ ghi nhận bằng cách ấy như thợ săn vạch lên báng súng số thú bắn được. Họ còn nói: - cái lưỡi khi chết thè ra bên trái vậy là nó đi có đôi. Con đực chết con cái sẽ báo thù.
Khi ông Hữu trở ra thì người nhà đang lột da con hổ. Họ thận trọng giữ cái này gìn cái nọ. Dân làng xúm đen xúm đỏ. Người chỉ cái này người trỏ cái kia. Cái gì cũng làm thuốc được.
- Răng nanh là thuốc hay lắm đới! - Có người ngoài nhắc.
- Kìa, cái xương bánh chè, lột trước đi nhá! Vậy, cẩn tắc vô áy náy. Vẫn là người ngoài nhắc.
Ông Hữu gần như không biết gì. Ông chạy lên chaỵ xuống, cầm cái nọ thả cái kia. Đaán lúc nhắc tới cái răng nanh, ông mới nhìn vào đầu con hổ thì cái lưỡi thè lè ra ngoài phía bên trái đã không còn nữa.
- Mất cái lưỡi rồi! Ông la lên.
- Nó là thuốc tốt đặc biệt đới. Có tiếng trong đám đông đáp trả.
Thế có ức không chứ. Ông dẫm chân xuống đất, ông hoa tay, ông nghẹo đầu. ông xô người này, ông đẩy người khác. Vòng người dãn ra được một chút rồi lại nhanh chóng khép lại.
Dân chúng kéo đến mỗi lúc một đông. Người thì tò mò, người thì háo hức thán phục. Trẻ con vui như hội. Đàn ông kiêu hãnh trước phái yếu. Cũng không ít kẻ có ý xin xỏ. Kẻ thì muốn xin cái vuốt về bịt bạc làm khước cho con, người muốn xin tí phổi về là thuốc suyễn. Người ta động xin cái gì là ông Hữu sai con mang ngay thứ đó vào nhà. Xương, thịt, tim, phổi, gan ruột chi chi cũng lần lượt được mang vào nhà hết. Thứ cuối cùng được ông cho mang vào nhà là bộ ruột già sau khi nghe người nào đó buột miệng: - Phân của nó làm thuốc đau bụng hay lắm đó!
Xong đâu đấy ông Hữu xoa tay nói: Mai mới bán thịt, mỗi cân năm đồng. Đám người đi coi giãn ra, lần lượt bỏ về. Chỉ còn lại trên mặt đất bộ da và cái đuôi. Có một người, không biết là mới đến hay trong số người bỏ về bỗng quay lại ghé sát tai ông Hữu thì thào:
- Ông ơi, cho tôi xin tí lông đuôi.
- Để làm gì? Ông Hữu hỏi dồn.
-- Dạ nhà con có tí việc.
- Không được! Khi khác hẵng.
Thế là cái đuôi đi trên hai chân người vào nhà trong. Người khách cuối cùng mỉn cười ra về. Không biết anh ấy xin thật hay đùa. Có trời mà biết cái lông đuôi ấy dùng được việc gì.
***
Trời mưa rả rích suốt ngaỳ này sang ngày khác. Trong nhà ông Hữu một thứ mùi khăm khẳm như thể cóc chết xen lẫn mùi tanh lợm của máu, mùi hôi hám của phân và cái mùi không rõ mùi gì của bộ da thấm nước. Ông kinh tởm với nó. Ông khạc nhổ, có khi còn nôn ọe. Ông sai con chôn đống ruột già. Rồi đến lúc tự ông chôn đống ruột non. Cuối cùng, chẳng thấy ai đến xin phổi xin lông gì cả, ông cũng đành phải đem chôn sau khi cắt một miếng phổi xỏ dây treo lên gác bếp. May mà số thịt ông đã bán và đã cho đi hết.
Khói bay nghi nghút trong bếp nhà ông. Trời mưa, mái nhà bị ướt. nó úp sụp xuống bịt cứng lấy cái mùi khó tả của bộ xương sấy dở. Rồi bộ xương bị trưng thu, không rõ về đâu. Chỉ còn bộ da cụt đuôi và mất móng đang sỉnh lên xông mùi vào mọi ngõ ngách chăn chiếu, cơm canh. Thực tình thì ông Hữu cũng thấy tởm nhưng không biết làm sao. Vất đi thì tiếc. Để vậy thì thối. Mà thuộc lên cho kỹ thì ông không biết cách. Thêm nữa ngày ấy chưa có chợ, chưa có giao thương nên chẳng có ai hỏi mua nên không bán được.
Mấy hôm sau thì có ông hàng xóm ngỏ lời xin bộ da. Ông Hữu ngần ngừ một lúc vừa đủ để nghĩ xem họ xin về để làm gì. Rồi không nghĩ ra để làm gì cả, ông đồng ý. Ông nói khó đôi ba câu cho có. Ông không có ý tiễn chân ông hàng xóm nhưng cũng đi theo một đoạn rồi dừng lại nhìn ông hàng xóm cho tới khi khuất hẳn. Ông đứng tần ngần trước ngõ một lúc rồi tặc lưỡi quay vào.
Như thể trời đất muốn trêu ông, mấy ngày sau nghe đồn râm ran rằng cục lâm sản sẽ vào mua bộ da hổ. Họ nói thứ này thuộc cho kỹ, xuất ra nước ngoài được cả nghìn bạc. Họ sướng hơn ta, nhà cao cửa rộng, sàn nhà trải thảm thì trên tường cũng phải có cái gì qúy hiếm để mà trưng. Nghe ra có lý lắm. Ngẫn nghĩ ông càng thấy đúng. Da hổ chứ chơi à? Da bò, da rắn còn quý nữa là. Nhưng mà ông cho hàng xóm mất rồi. Không lẽ thế là mất đứt nghìn bạc.
Ông nốc rượu vào. Ông xắn tay áo lên, rồi xồng xộc sang nhà hàng xóm. Vừa vào đến ngõ, ông bỗng dịu lại. Hơi men bay đâu mất. Ông phải hắng giọng mấy lần mới nói được:
- Này ông Trương, chỗ ttôi với ông là hàng xóm láng giềng. Lần trước ông có xin tấm da hổ. tôi thuận cho ông. Tôi nghĩ chán rồi, nó chẳng được tích sự gì. Ai dè nó quý đến thế, đáng giá hơn cả con hổ. Không có nó xem như tôi không bắn được con hổ này. Nói thế là ông hiểu. Ông cho tôi xin lại.
Khổ công cha con ông Trương mấy ngày nay cũng ra công hong sấy. Nhưng mà cũng không đành giành giật. Tấm da hổ lại về theo ông Hữu. Chưa bao giờ ông Hữu hùng hục bổ củi như thế. Dưới ông sấy, trên ông phơi. May mà trời đã trở nắng. Chẳng mấy bữa tấm da hổ đã khô. Nó cứng coòng, không ra hình thù gì cả. Không hiểu người nước ngoài thích thú kiểu gì chứ chính ông nhìn cũng không thấy đẹp. Không đẹp mà dáng nghìn bạc? Ông gật gù, ngắm đi ngắm lại. Ừ thì nó cũng đẹp. Đẹp ở cái vằn vện.
***
Năm ngày, nửa tháng chẳng thấy cục thấy bộ nào vào. Một tháng, nửa năm càng vắng tanh vắng ngắt. Tấm da hổ treo ngoài bức vách lâu ngày thấm ẩm. Mỗi khi động trời hơi gió nó lại bốc lên cái mùi khăm khẳm của mấy tháng về trước. Những hôm nắng to ông đưa nó ra phơi. Càng phơi càng quắt queo. Nó co dần lại, cứng coòng.
Rồi lâu dần, không còn ai nhắc tới tấm da hổ nữa. Kì tích của ông cũng phai nhạt dần. Bỗng một hôm có đoàn chuyên gia bay trực thăng qua vùng. Một ông Tây không biết nghe ai nói đã tìm đến nhà ông Hữu. Ông ngắm nghía tấm da kỹ lắm. Ông trầm trồ tấm tắc. Thế mới biết người ta biết quý da hổ thế nào. Đôi mắt ông khách sáng lên khi ông Hữu biếu ông ấy một cái vuốt. Ông khách bắt tay ông Hữu thật chặt, nói một câu thật dài, rồi nhanh nhẹn đi ra chỗ máy bay đậu.
Anh phiên dịch đứng lại nói với ông Hữu rằng: - Lần sau bác có bắn được hổ nhớ để nguyên cả bộ da, đủ cả đuôi và móng vuốt. Đủ tất. Rồi thuộc cho kỹ, cho mền da. giá trị lắm đấy. Bác hiểu chứ, gía trị lắm. Chứ bác để thế này phí quá. Phí quá.
Bọn trẻ chạy ùa theo ông chuyên gia, ra xem máy bay trực thăng cất cánh. Mấy phút sau tiếng động cơ nổ giòn rôì rú lên dữ dội. Chiếc máy bay rùng mình rồi vụt lên cao. Ông Hữu đứng ở thềm nhìn theo chiếc máy bay nhỏ dần. Tấm da hổ của ông cũng vậy, nhỏ dần. Tiếng động cơ máy bay cũng nhỏ dần và mất hẳn.
QP 1974- 1977
* Ngày ấy chiến tranh, có trang bị súng K44 cho dân quân tự vệ.