Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

TẤM DA HỔ

    Mặc dầu có tướng thợ săn nhưng ông Hữu chưa đi săn bao giờ. Thi thoảng ông  có bắn vài con chim bằng súng thể thao, nhưng ấy là việc nhiều người vẫn thường làm. Ông có biệt tài nấu nướng: một con chim gáy ông làm nên nồi cháo lớn ngọt đậm và béo ngậy. Ông không mấy khi gặp may, nhưng ông tự an ủi ở hiền gặp lành, thế nào cũng có lúc ăn nên làm ra. Cái rủi nào cũng có cái may trong đó.
    Và lần ấy bỗng nhiên ông bắn được con hổ lớn. Nói rằng bỗng nhiên là vì con hổ tự nó dẫn xác vào vườn ông Hữu, lại còn ung dung đón nhận hai viên đạn, và từ tốn ngã xuống bên hàng rào: không làm gãy một cây sắn, không làm rách một lá chuối, cũng không gây một tiếng động nào.
     Sau hai phát súng,* ông  Hữu trở vào nhà, lên phản ngồi xếp bằng tròn, gật gù. Ông Hữu vốn có cái đầu thót dần lên trên, tóc húi cua dựng đứng, hai vành tai ép sát vào sọ, trán ngắn và hẹp, cằm bạnh và dô. Ông có cái cổ khỏe và đôi vai đầy hơi xuôi. Khi ông ngồi xếp bằng trông như cỗ oản lớn. Khi đi trong rừng chúi người về phía trước trông ông như con gấu.
     Ông Hữu ít khi cười. Lần này ông có nhếch mép: cũng khó đoán là cười hay mếu. Có thể là cười nếu ông cho rằng vận đỏ đang đến. Có thể là mếu nếu ông coi mấy phút trước đây tử thần cách ông chỉ còn dăm thước với hai con mắt xanh lè và hai hàm răng vàng khè. 
    Người nhà kéo con hổ về. Dân làng xúm đen xúm đỏ. Cả em nhỏ và cụ già. Cả cụ ông và cụ bà. Cả những bậc thợ săn lão luyện mà số thú bắn được không thể nhớ hết. Một cụ già vơ vội bó đuốc đốt cháy bộ râu con hổ. Đám đông truyền nhau: - Râu mép hổ làm thuốc độc*. Một cụ khác xác nhận con hổ này được sáu vỗ**. Thanh niên llấy thước tây đo chiều dài tà đầu đến mông được một mét sáu. Ai cũng trầm trồ, dễ có mấy chục năm chưa thấy con hổ nào lớn đến vậy. Người ta sờ móng, xem tai, xem lưỡi. Có người nói ccọ hổ này đã ăn thịt một người rồi vì tai của nó có một vết xước. Bao nhiêu vết xước trên tai là bấy nhiêu người bị ăn thịt. Con hổ ghi nhận bằng cách ấy như thợ săn vạch lên báng súng số thú bắn được. Họ còn nói: - cái lưỡi khi chết thè ra bên trái vậy là nó đi có đôi. Con đực chết con cái sẽ báo thù.
     Khi ông Hữu trở ra thì người nhà đang lột da con hổ. Họ thận trọng giữ cái này gìn cái nọ. Dân làng xúm đen xúm đỏ. Người chỉ cái này người trỏ cái kia. Cái gì cũng làm thuốc được.
    - Răng nanh là thuốc hay lắm đới! - Có người ngoài nhắc.
    - Kìa, cái xương bánh chè, lột trước đi nhá! Vậy, cẩn tắc vô áy náy. Vẫn là người ngoài nhắc.
    Ông Hữu gần như không biết gì. Ông chạy lên chaỵ xuống, cầm cái nọ thả cái kia. Đaán lúc nhắc tới cái răng nanh, ông mới nhìn vào đầu con hổ thì cái lưỡi thè lè ra ngoài phía bên trái đã không còn nữa.
    - Mất cái lưỡi rồi! Ông la lên.
    - Nó là thuốc tốt đặc biệt đới. Có tiếng trong đám đông đáp trả.
   Thế có ức không chứ. Ông dẫm chân xuống đất, ông hoa tay, ông nghẹo đầu. ông xô người này, ông đẩy người khác. Vòng người dãn ra được một chút rồi lại nhanh chóng khép lại.
    Dân chúng kéo đến mỗi lúc một đông. Người thì tò mò, người thì háo hức thán phục. Trẻ con vui như hội. Đàn ông kiêu hãnh trước phái yếu. Cũng không ít kẻ có ý xin xỏ. Kẻ thì muốn xin cái vuốt về bịt bạc làm khước cho con, người muốn xin tí phổi về là thuốc suyễn. Người ta động xin cái gì là ông Hữu sai con mang ngay thứ đó vào nhà. Xương, thịt, tim, phổi, gan ruột chi chi cũng lần lượt được mang vào nhà hết. Thứ cuối cùng được ông cho mang vào nhà là bộ ruột già sau khi nghe người nào đó buột miệng: - Phân của nó làm thuốc đau bụng hay lắm đó!
     Xong đâu đấy ông Hữu xoa tay nói: Mai mới bán thịt, mỗi cân năm đồng. Đám người đi coi giãn ra, lần lượt bỏ về. Chỉ còn lại trên mặt đất bộ da và cái đuôi. Có một người, không biết là mới đến hay trong số người bỏ về bỗng quay lại ghé sát tai ông Hữu thì thào: 
    - Ông ơi, cho tôi xin tí lông đuôi.
   - Để làm gì? Ông Hữu hỏi dồn.
   -- Dạ nhà con có tí việc.
   - Không được! Khi khác hẵng.
  Thế là cái đuôi đi trên hai chân người vào nhà trong. Người khách cuối cùng mỉn cười ra về. Không biết anh ấy xin thật hay đùa. Có trời mà biết cái lông đuôi ấy dùng được việc gì.
                                   ***
    Trời mưa rả rích suốt ngaỳ này sang ngày khác. Trong nhà ông Hữu một thứ mùi khăm khẳm như thể cóc chết xen lẫn mùi tanh lợm của máu, mùi hôi hám của phân và cái mùi không rõ mùi gì của bộ da thấm nước. Ông kinh tởm với nó. Ông khạc nhổ, có khi còn nôn ọe. Ông sai con chôn đống ruột già. Rồi đến lúc tự ông chôn đống ruột non. Cuối cùng, chẳng thấy ai đến xin phổi xin lông gì cả, ông cũng đành phải đem chôn sau khi cắt một miếng phổi xỏ dây treo lên gác bếp. May mà số thịt ông đã bán và đã cho đi hết.
     Khói bay nghi nghút trong bếp nhà ông. Trời mưa, mái nhà bị ướt. nó úp sụp xuống bịt cứng lấy cái mùi khó tả của bộ xương sấy dở. Rồi bộ xương bị trưng thu, không rõ về đâu. Chỉ còn bộ da cụt đuôi và mất móng đang sỉnh lên xông mùi vào mọi ngõ ngách chăn chiếu, cơm canh. Thực tình thì ông Hữu cũng thấy tởm nhưng không biết làm sao. Vất đi thì tiếc. Để vậy thì thối. Mà thuộc lên cho kỹ thì ông không biết cách. Thêm nữa ngày ấy chưa có chợ, chưa có giao thương nên chẳng có ai hỏi mua nên không bán được.
     Mấy hôm sau thì có ông hàng xóm ngỏ lời xin bộ da. Ông Hữu ngần ngừ một lúc vừa đủ để nghĩ xem họ xin về để làm gì. Rồi không nghĩ ra để làm gì cả, ông đồng ý. Ông nói khó đôi ba câu cho có. Ông không có ý tiễn chân ông hàng xóm nhưng cũng đi theo một đoạn rồi dừng lại nhìn ông hàng xóm cho tới khi khuất hẳn. Ông đứng tần ngần trước ngõ một lúc rồi tặc lưỡi quay vào. 
     Như thể trời đất muốn trêu ông, mấy ngày sau nghe đồn râm ran rằng cục lâm sản sẽ vào mua bộ da hổ. Họ nói thứ này thuộc cho kỹ, xuất ra nước ngoài được cả nghìn bạc. Họ sướng hơn ta, nhà cao cửa rộng, sàn nhà trải thảm thì trên tường cũng phải có cái gì qúy hiếm để mà trưng. Nghe ra có lý lắm. Ngẫn nghĩ ông càng thấy đúng. Da hổ chứ chơi à? Da bò, da rắn còn quý nữa là. Nhưng mà ông cho hàng xóm mất rồi. Không lẽ thế là mất đứt nghìn bạc. 
    Ông nốc rượu vào. Ông xắn tay áo lên, rồi xồng xộc sang nhà hàng xóm. Vừa vào đến ngõ, ông bỗng dịu lại. Hơi men bay đâu mất. Ông phải hắng giọng mấy lần mới nói được:
     - Này ông Trương, chỗ ttôi với ông là hàng xóm láng giềng. Lần trước ông có xin tấm da hổ. tôi thuận cho ông. Tôi nghĩ chán rồi, nó chẳng được tích sự gì. Ai dè nó quý đến thế, đáng giá hơn cả con hổ. Không có nó xem như tôi không bắn được con hổ này. Nói thế là ông hiểu. Ông cho tôi xin lại.
    Khổ công cha con ông Trương mấy ngày nay cũng ra công hong sấy. Nhưng mà cũng không đành giành giật. Tấm da hổ lại về theo ông Hữu. Chưa bao giờ ông Hữu hùng hục bổ củi như thế. Dưới ông sấy, trên ông phơi. May mà trời đã trở nắng. Chẳng mấy bữa tấm da hổ đã khô. Nó cứng coòng, không ra hình thù gì cả. Không hiểu người nước ngoài thích thú kiểu gì chứ chính ông nhìn cũng không thấy đẹp. Không đẹp mà dáng nghìn bạc? Ông gật gù, ngắm đi ngắm lại. Ừ thì nó cũng đẹp. Đẹp ở cái vằn vện.
                                                     ***
     Năm ngày, nửa tháng chẳng thấy cục thấy bộ nào vào. Một tháng, nửa năm càng vắng tanh vắng ngắt. Tấm da hổ treo ngoài bức vách lâu ngày thấm ẩm. Mỗi khi động trời hơi  gió nó lại bốc lên cái mùi khăm khẳm của mấy tháng về trước. Những hôm nắng to ông đưa nó ra phơi. Càng phơi càng quắt queo. Nó co dần lại, cứng coòng.
    Rồi lâu dần, không còn ai nhắc tới tấm da hổ nữa. Kì tích của ông cũng phai nhạt dần. Bỗng một hôm có đoàn chuyên gia bay trực thăng qua vùng. Một ông Tây không biết nghe ai nói đã tìm đến nhà ông Hữu. Ông ngắm nghía tấm da kỹ lắm. Ông trầm trồ tấm tắc. Thế mới biết người ta biết quý da hổ thế nào. Đôi mắt ông khách sáng lên khi ông Hữu biếu ông ấy một cái vuốt. Ông khách bắt tay ông Hữu thật chặt, nói một câu thật dài, rồi nhanh nhẹn đi ra chỗ máy bay đậu.
     Anh phiên dịch đứng lại nói với ông Hữu  rằng: - Lần sau bác có bắn được hổ nhớ để nguyên cả bộ da, đủ cả đuôi và móng vuốt. Đủ tất. Rồi thuộc cho kỹ, cho mền da. giá trị lắm đấy. Bác hiểu chứ, gía trị lắm. Chứ bác để thế này phí quá. Phí quá.
     Bọn trẻ chạy ùa theo ông chuyên gia, ra xem máy bay trực thăng cất cánh. Mấy phút sau tiếng động cơ nổ giòn rôì rú lên dữ dội. Chiếc máy bay rùng mình rồi vụt lên cao. Ông Hữu đứng ở thềm nhìn theo chiếc máy bay nhỏ dần. Tấm da hổ của ông cũng vậy, nhỏ dần. Tiếng động cơ máy bay cũng nhỏ dần và mất hẳn.
                                                                      QP 1974- 1977 

    * Ngày ấy chiến tranh, có trang bị súng K44 cho dân quân tự vệ.

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

HƯỚNG NHÌN

 Hướng lên trời
mỗi một người
như một dấu chấm than
vô tình
chấm ngược.

Nhìn xuống đất 
còn đôi chân
thấy tự tin chính mình
nhẹ nhàng 
cất bước.
                        12/3/2022

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

CÓ LÚC


Có lúc không còn muốn nghe tiếng người
nói vậy mà không phải vậy.
Lắng một tiếng chim từ miền xa ấy
nghe như rừng xanh không còn...
2021

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

RCYT 88: COI TƯỚNG CHIM

     Nói thế thôi chứ có phải tướng tá gì đâu. Ai nhìn cũng thấy loài chim săn mồi có vuốt sắc mỏ nhọn. Không chỉ sắc nhọn mà còn rất khỏe. Đại bàng, chim ưng, ó, cắt, diều đều vậy cả. Chúng bay không nhanh nhưng khi bổ nhào thì lao vút xuống như tên bắn. Điều đặc biệt là khi sắp tiếp cận con mồi chúng xòe cánh làm cú hãm tốc cực giỏi để vươn bộ vuốt ra vừa đủ tóm gọn con mồi. Nếu như không có cú hãm tốc điệu nghệ đó thì nó đã tan thây hộc máu ra rồi. Nhưng cái ghê nhất ở loài chim săn mồi không chỉ thế mà là ở đôi mắt. Mắt chúng nhanh sắc, sáng quắc, có sức uy hiếp và hầu như không bao giờ tỏ ra sợ hãi trước kẻ thù, kể cả con người.
     Đó là mình nhìn thấy được mà nói thế. Chứ giả sử bịt mắt lại, ta sẽ nói được gì về những loài chim? Bạn định bói sao? Thì cứ thử xem!
     Hai chân mảnh khảnh cao kều, cái đuôi cụt lủn, cái mỏ nhỏ và dài như chiếc đũa mà lại cong cong và mềm là giống chim chỉ có thể kiếm ăn nơi bờ đầm ruộng nước, sục trong đám bùn nhão mà tìm con giun con vạc. Đúng không? Nó mà dời đi chốn khác e không sống nổi một khắc.
     Cái mỏ thẳng dài nhọn hoắt lại có chấu sắc như liềm là dùng để bắt cá. Cái mỏ khoằm và mập là để moi quả rỉa hạt. Cái mỏ thẳng mà xinh là để hót hay. Mỏ bé lại tày thì chỉ biết nhặt hạt đã rụng..
     Chân khô móng nhọn là loài hiếu chiến; chân màng để bơi; chân mập móng cùn là loài bươi đất. Chân cao đuôi cụt là loài chim nước, chân ngắn đuôi dài chuyên sống trên cây. Chân có vảy cứng là loài chim dữ.
      Lông mềm và mủi thường là chim ăn chay. Lông cứng và dai thường là chim ăn thịt. Mình tròn ngực nở thì mỏ lại yếu; cánh khỏe đầu thon thì chân lại non. Màu lông sắc sỡ thường ở núi cao, lông nâu hoặc đen thường nơi bụi đất.
     Có vẻ như những điều vừa nêu là khá phổ biến. Vậy bạn thử đoán xem: loài chim lông mủi, lại có màu xanh, mình thon đầu nhỏ là giống chim gì? - Là loài ăn chay, mỏ yếu bay nhanh, sống ở rừng xanh, không phải cu kỳ thì cũng cu xanh. Đặc biệt cu xanh còn có chân ngắn, móng nhỏ, ngón mềm hồng hào mũm mỉm, không lẫn vào đâu được. Chúng không hề có phản ứng cào cấu hay mổ lại khi ta ôm chúng trong tay. Thế nhưng không thể nuôi cho cho chúng quen người. Chim ưng thì có thể, còn cu xanh thì không. Chúng là loài chim hiền lành nhất, nhưng cũng là loài yêu tự do nhất, không thể thuần hóa, không bị khuất phục.
                                         QP 1985
 

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

RCYT 89. ĐÊM TRĂNG SÁNG

     Rừng già những đêm trăng sáng gần như không ngủ. Cây lá rì rào trò chuyện, con người cùng thức với trăng. Ánh trăng đầu tiên không phải thấy từ trăng mà là từ lá. Lá ướt sương đêm phản chiếu lung linh, còn trăng thì phải len lách qua các kẽ lá mà đến với người. Cây rung rinh trăng cũng lung linh. Cây rì rào trò chuyện trăng cũng e lệ thẹn thò. Ta có cảm giác rừng sinh ra trăng, núi đưa trăng lên cao.
     Ngồi trên nhà sàn mà ngắm trăng thì trăng mới thật là trăng. Không gì che mờ, không gì lấn át, trăng trôi hiền hòa tỏa sáng dịu êm. gió khẽ cùng cây trò chuyện. Ôi! Trăng ơi.
     Các chàng trai và các cô gái măng tơ thì không sao cưỡng nỗi sức quyến rũ của trăng. Họ đã cùng đi với nhau dưới trăng, ngồi với nhau trong trăng. Các chàng trai thổi pì và nhuôn. Tiếng pì rủ rỉ rung mãi những nốt trầm buồn xao xuyến và lời nhuôn thì tha thiết ngọt ngào. Còn các cô gái thì mãi lắng nghe và thẹn thùng say đắm.
     Cả rừng già, cả thôn bản và cả những thảm cỏ đầu làng, những đêm trăng sáng cũng gần như không ngủ.
                               QP 1985

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

NẾP NHĂN VẦNG TRÁN

       Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Câu đó nhiều người nói. Vầng trán là tấm gương phản ánh trí tuệ. Điều đó có lẽ đúng. Một điều chắc chắn đúng là người ta chỉ nhăn trán những khi đau đớn quá, bực bội ghê gớm quá, hoặc phải vận trí não căng thẳng quá. Còn thường khi thì vầng trán sẽ phẳng phiu trong sáng, con người sẽ nhân hậu và bình thản.
    Ông Tâm vốn là một người nhân hậu. Và nhờ thế ông trở thành người đứng đầu. Ông đã từng làm tiểu đội trưởng dân  quân, lớp trưởng hồi còn học sư phạm, còn bây giờ là hiệu trưởng. Bởi là người đứng đầu nên ông thường phải suy nghĩ nhiều. Bởi duy nghĩ nhiều nên trán của ông sớm hằn những nếp nhăn mệt mỏi. Với những nếp nhăn ấy người ta thường gọi hiệu trưởng bằng ông.
    Ông Tâm đang suy nghĩ. Người ta đoán ra ngay vì thấy trán ông đang nhăn lại. Ông suy nghĩ dữ lắm, ông đang gặp một điều hóc búa.
Ông lại phân tích:
    - Học sinh đang học. Giáo viên đang lên lớp. Ông bắt đầu phân tích. Ông xem lại thời khóa biểu một lầ nữa. Đúng rồi, không còn một ai ở nhà, tất cả mọi người đều bận. Ông khiu trán lại. Chỉ còn ông là không lên lớp, các nếp nhăn tạm giãn ra. Nhưng chỉ có một mình ông, làm thế nào bây giờ? Ông khiu trán lại. Đứa học trò đang nằm kia. Nó đau đớn lắm. Nó bị đau bụng đột ngột. Nó xin nghỉ, định về, thì lăn quay ra. Nó rên. có lẽ nó đau ruột thừa. Cái đầu cuẩ ông đoán thế. Nếu vậy thì nguy quá. Không nhanh e nó chết mất. Đứa học trò vẫn rên. Ông lại khíu trán. - Phải đưa nó đi viện, đúng rồi, phải đưa nó đi ngay thôi. Mình sẽ đèo nó đi. 
    Ông dắt xe đạp ra, thận trọng xem lại lốp sau. Lốp chắc. Yên trí, trán của ông giãn ra. Ông đến bên đứa học sinh khẽ lay nó:
    - Thầy đưa em đi viện nha. 
Học trò vẫn rên, nhưng mắt nó sáng lên tin tưởng.
   - Em cố ngồi lên xe thầy đèo em đi nhé. 
Đứa học trò vẫn  rên, nó rên dài hơn, đôi mắt tối dần lại, mãi sau nó mới nói:
   -Đau lắm, em không ngồi dậy được.
   Nó rên dữ hơn. Ông Tâm lại cân nhắc: Trò đang học, các  thầy đang lên lớp, em này đau dữ quá, cần đưa đi viện, chỉ còn mình ông, có lẽ nó bị đau ruột thừa, nó không ngồi dậy được,...
    Bỗng nhiên ông thốt lên lời: - Không được. Vì ông đang thầm nghĩ, nếu lấy học sinh cáng trò này đi viện thì tiện, nhưng buộc lòng phải có trò mất buổi học, thiệt thòi cho nó, không đành. Lấy giáo viên đi thì lại càng không được, vì cả lớp phải nghỉ học.
    - Không được, ông lại thốt nên lời. Như thế không ổn.
    Đứa học sinh vẫn rên. Thi thoảng lại bật lên tiếng kêu. Nó kêu cha kêu mẹ. Rồi tiếng kêu bặt đi, nó rên nhè nhẹ. Nhà nó ở xa, nó ở lại trong kí túc xá quanh trường. Biết làm sao bây giờ. Ông Tâm hơi rối, da trán nhăn lại. Ông cũng có những đứa con như nó, còn nhỏ đại hơn nữa. Ông đã phải vất vả và phải còn vất vả thêm bao nhiêu nữa vì chúng nó. Và ông lại phải phân tích từ đầu: -Học sinh đang học, các thầy đang lên lớp... Trán ông nhăn lại, rối rắm, bế tắc.
    - Ối trời ôi! 
    Rồi im bặt. Nó kiệt sức. Hay nó bị ngất. Hay là?...
    Không. Nó cười. Thật đấy mà. Nó cười. Không biết nó đọc được từ đâu  trên con người ông một ánh sáng trí tuệ lóe lên, và nó cười. Ông Tâm cũng gần như cười, nhưng các nếp nhăn vẫn không giãn ra được.
    Ông Tâm lặng lẽ kéo đến một chiếc xe cải tiến mà nhà bếp vẫn thường dùng chở gạo. Ông lót cái chiếu của ông vào thùng xe. Ông nhẹ nhàng bế đứa học trò đặt vào đó. Rồi cũng rất nhẹ nhàng ông đắp cho nó chiếc chăn chiên của ông. Và ông từ từ kéo xe đi.
    Chiếc xe đi về hướng bệnh viện. Trong xe không còn nghe tiếng rên la nữa. Thi thoảng mới nghe ối lên một tiếng khi xe xóc ổ gà. Ông vẫn từ từ kéo xe đi. Người hơi cúi xuống. Không biết ông đang nghĩ gì mà các nếp nhăn trên trán không giãn ra được. Ông cũng không hề hay biết sau ông một quãng mấy thầy trò đang chạy theo ông với chiếc đòn khiêng dài và một cái võng. 
                                                                          1976

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2025

LỚP VỞ LÒNG NGÀY ĐÓ

     Sau chiến thắng Điện Biên. Sau trận lụt 1954...
   Rồi khi bắt đầu có những thứ có thể ăn được sau những ngày đói thắt ruột, thì lũ nhóc xóm tôi được đi học lớp vở lòng. Lớp học ngay trong xóm ta chứ không phải đi đâu xa. Lớp ấy có 2 chị em Cờu, Đờu con ông Tùng; hai chị em Nghịa, Lệ con ông Tụy; hai chị em Việt, Tứ con ông Thợn, và Thuyến con ông Xuyến. Bên xóm Hà thanh có cậu Tự con bà Mại Xan và Chắt Xin con ông Xân. Còn tôi là thằng oắt  lẽo đẽo ghép thêm vào.
     Thầy dạy chúng tôi học o a là cậu Thuyết / tôi gọi bằng cậu vì tôi là cháu ngoại/. Thầy đi bộ đội, đánh trận Điện Biên, hòa bình rồi thì phục viên. Chúng  tôi không có trường lớp riêng, nên khi thì học ở nhà thầy, khi thì học ngoài điếm, khi thì học ở nhà bà Chắt Yêng.
   Mẹ con tôi ở trại trên rú Mấc. Cậu Cả vót que hóp cho nhọn đầu rồi bày cho tôi cách ấn lên lá chuối mà viết thành chữ. Mỗi buổi cậu xé cho một mảnh lá chuối bằng hai bàn tay người lớn, rồi tôi cắp bút hóp mà đi học. Đến lớp, tập viết từng chữ thành hàng, mà hàng thì trời đã kẻ sẵn trên lá. Dần dần viết thành câu, thành bài, kín cả trang lá chuối. 
    Học chưa xong lớp vở lòng thì tôi phải theo ba mẹ ra trại phung Quỳnh Lập. Từ đó tôi xa thầy xa bạn. Rồi tôi đi mãi vào cõi mung lung. Bây giờ nhớ lại lớp học vở lòng ngày đó thì đã bảy mươi năm qua rồi. Bảy mươi năm ấy, có lẽ không có lớp vở lòng nào như thế nữa. Có lẽ thầy tôi cũng chỉ dạy mỗi một lớp ấy. Và thế là nó chỉ có một, nó là duy nhất.
                   14/12/2025