Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

HỌC TRÒ

Học trò im nghe lời thầy
Có đứa thực ra chỉ vì nhút nhát
Nhiều đứa học thuộc lời thầy
Vì không nghĩ ra được điều gì khác
Nhìn trò mà rơi nước mắt
Ngoan hiền chỉ thế này sao
                                         1990

      Chẳng riêng gì trò nhỏ tuổi của tôi ngày xưa, mà trò của bạn chắc là cũng vậy. Càng buồn hơn nếu những trò "kiệt xuất" của các vĩ nhân cũng chẳng khác gì.
     Một năm học nữa lại sắp kết thúc. Lại rộn ràng một mùa thi. Các máy phô -tô cóp -pi lại nóng ran lên. Và có cả những ai đó đã chăng sẵn lưới để đón mẻ cá vào mùa ôn thi cấp tốc...
    Tôi nghỉ dạy đã lâu rồi mà sao vào cái lúc hoa bằng lăng chớm nở này, lòng lạị vẫn thấy buồn làm vậy.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

NHỮNG NỖI ĐAU CỦA NÔNG DÂN MẤT ĐẤT

     Sau hơn hai tháng không vào mạng, nào hay Tiên Lãng chưa qua thì Văn Giang lại tới, ồ ạt, dồn dập, căng thẳng và đau xót khôn cùng. Thương bà con nông dân, thương người dân đen quá. Tôi hình dung cái khổ của dân qua những cái sự liệt kê tổn thất sau đây:
   Một là dân mất tư liệu sản xuất. Người nông dân dường như chỉ có mảnh đất là thứ tư liệu sản xuất đáng kể nhất, gắn bó lâu dài và được truyền từ đời này sang đời khác (nếu không kể biến động thời CCRĐ và thời HTX). Ruộng đất mất rồi thì cái cày cái cuốc, cái hái cái liềm chẳng còn giá trị gì, xem như mất nốt. Mà mất tư liệu sản xuất  thì nông dân không còn là nông dân nữa.
   Hai là nông dân mất công ăn việc làm, và biến luôn cả khối tri thức kinh nghiệm sản xuất được đúc kết cả ngàn đời của người nông dân thành ra vô dụng. Hóa ra người nông dân không chỉ mất tư liệu sản xuất hữu hình mà mất luôn cả những giá trị vô hình nhưng vô cùng quý giá khác.
   Ba là người nông dân mất nguồn thu nhập, mất hết nguồn sống vật chất và mất luôn nhiều giá trị tinh thần của người tiểu chủ.
   Bốn là một bộ phận không nhỏ trong số họ không thể thích ứng kịp với sự đổi thay sẽ bị vô sản hóa, bần cùng hóa, thậm chí có thể bị lưu manh hóa theo kiểu Chí Phèo thời hiện đại.
   Năm là văn hóa làng xã, văn minh lúa nước của vùng châu thổ sẽ mất đi, không phải dần dần mà tức khắc, đột ngột làm cho cơn sốc văn hóa sẽ xẩy ra với người nông dân vốn thật thà chất phác, lam lũ và đôn hậu. Mất luôn hàng cau, giàn trầu, mất luôn câu hò điệu ví, và mất dần hệ ngôn ngữ của nền văn minh lúa nước. Đau nữa là mất đi các giá trị thiêng liêng trong đó có giá trị tâm linh.
    Sáu là mất đi hệ sinh thái đồng bằng, mất đi cấu tượng đất, mất đi bờ xôi ruộng mật mà phải hàng ngàn năm canh tác mới có được.
    Bảy là mất đi sự cân bằng và bình đẳng tương đối giữa người với người, sẽ khoét sâu thêm ranh giới giàu nghèo, sẽ tạo nên những bất công xã hội. Và người nông dân bị thu hồi đất sẽ cảm thấy thiệt thòi hơn, đau xót hơn khi những kẻ giàu có nào đó lại vênh vang tự đắc mà nghênh ngang sống ngay trên mảnh đất của ông cha họ...
     Tám là nỗi đau khi đánh mất đi miền tin "người cày có ruộng". Họ đã trung thành, họ đã hy sinh rất nhiều với hy vọng, với miền tin đó, nhưng bây giờ thì sụp đổ hoàn toàn.
    Có thể còn nhiều nỗi đau mất mát khác sẽ đến với người nông dân bị thu hồi đất bất đắc dĩ. Rồi người ta có thể sẽ nhận ra vào một lúc nào đó. Nhưng dù có nhận ra hay không thì người nông dân vẫn phải lãnh trọn những nỗi đau này. Bởi vì người ta đã không tính đến những tổn thất đó để đưa vào danh mục cần phải đền bù cho người nông dân bị thu hồi đất. Và bởi có những giá trị thiêng liêng không dễ gì đánh đổi bằng tiền.
   Vậy nên người thu hồi đất hãy hết sức thận trọng. Các cơ quan chức năng càng phải thận trọng hơn. Nỗi đau này không chỉ là nỗi đau riêng của người nông dân, không chỉ riêng Tiên lãng hay Văn giang mà là nỗi đau chung của cả nước. Trong chính thể "của dân do dân vì dân" không có chỗ cho kẻ nào ngang nhiên tạo ra cho người dân lương thiện những nỗi đau này!. 
                                                                          5/5/2012

   

VÔ CẦU

Mải mê làm mà không cầu điều gì
Thận trọng mà làm rồi việc xong có thì
Thời gian trôi ư dường như không hay
Ngoài kia trời xanh gió đưa mây bay

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

RCYT: 06. CÂY ĐA TRỒNG Ở SÂN TRƯỜNG

      Con chim nào mang hạt đến, rồi trong vườn tôi mọc lên một cây đa. Tôi đem trồng nó ở sân trường. Rôi bón phân cho nó và nó lớn rất nhanh.
      Tôi hy vọng một ngày kia nó sẽ xòe tán che mát cho cả sân trường. Học trò của tôi  sẽ ngồi chơi trên các rễ đa xù xì dưới bóng râm tán lá. Còn trên cành là chim và quả chín.
      Rồi cây đa cho rễ phụ. Rễ phụ gặp đất màu sẽ lớn lên thành thân cây. Đa luôn có thêm thân mới, nó luôn luôn trẻ và tràn đầy sức sống.
     Có em nhỏ tinh nghịch nào đã bẻ mất búp đa non. Cây đa sững lại. Tôi cũng sững lại. Trên cây chỉ còn những chiếc lá già. Tôi buồn. Tôi phải rào cây đa lại.
    Chẳng bao lâu chỗ bị bẻ khô dần quánh nhựa. Ở nách lá bên cạnh, trên đầu chót đã lại nhú mầm. Mầm màu đỏ, chưa nhìn rõ lá. Nhưng chắc chắn từ đấy sẽ xòe ra những chiếc lá non. Cây đa con chắc chắn sẽ lớn lên. Còn một khi nó đã vượt quá tầm nghịch ngợm của trẻ con rồi thì cứ thế lớn mãi.
     Khi đó em bé tinh nghịch của tôi lại đến ngồi chơi trên các rễ của nó và tha hồ ngắm các loài chim về ríu rít trên cành.
                                                                         1984

Ảnh chụp năm 2011



*****

Bổ sung bài viết:
* Còn một cây đa nước mình trồng trước cây này vài năm. Loại đa nước lên nhanh, lá to, thân thẳng.  Năm 2018 vẫn còn, nay hình như đã bị đốn hạ.



*****

 ***** Ảnh chụp đầu năm 2017




Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Xin đăng lại: Dương Danh Di nhớ lại đêm 17/2/1979

Thứ sáu, ngày 17 tháng hai năm 2012

DƯƠNG DANH DY: NHỚ LẠI ĐÊM 17 THÁNG 2 NĂM 1979


Ông Dương Danh Dy. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

Nhớ lại đêm 17 tháng 2 năm 1979

Dương Danh Dy    

Tháng 9 năm 1977, tôi được lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam cử sang làm Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, chuyên làm công tác nghiên cứu.

Quan hệ hai nước Việt Trung, từ lúc tôi ở trong nước đã xấu, lúc này càng xấu đi từng ngày.

Dòng “nạn kiều” dưới sự kích động của nhà đương cục Trung Quốc vẫn lũ lượt kéo nhau rời khỏi Việt Nam, một phần về Trung Quốc một phần đi sang các nước khác.

Lấy lý do cần có tiền để “nuôi nạn kiều”, ngày 13/5/1978 lần đầu tiên nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút một bộ phận chuyên gia về nước.

Không lâu sau đó, ngày 3/7/1978 chính phủ Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước.


Xung đột biên giới trên đất liền, nhất là tại điểm nối ray trên đường sắt liên vận Hà Nội-Bằng Tường ngày càng tăng (có lúc có nơi đã xảy ra đổ máu).

Chuẩn bị tình huống xấu

Tháng 7 năm 1978 chúng tôi được phổ biến Nghị Quyết TW 4, tinh thần là phải thấu suốt quan điểm nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế vừa tăng cường lực lượng quốc phòng, chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu.

Tháng 11 năm 1978 Việt Nam ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác” với Liên Xô.

Đến tháng 12 năm 1978 mọi việc chuẩn bị cho tình huống xấu nhất trong đại sứ quán đã làm xong. Sứ quán nhận được máy phát điện chạy xăng (và đã cho chạy thử), gạo nước, thực phẩm khô đã được tích trữ đầy đủ, đại sứ quán mấy nước anh em thân thiết cũng nhận được các đề nghị cụ thể khi bất trắc xẩy ra…

"Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta (Đặng Tiểu Bình)"
Tôi được đồng chí đại sứ phân công đọc và lựa chọn các tài liệu lưu trữ quan trọng, cái phải gửi về nhà, cái có thể hủy.
Tháng 12 năm 1978 trong chuyến thăm mấy nước Đông Nam Á, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Đặng Tiểu Bình vừa hùng hổ vừa tức tối nói một câu không xứng đáng với tư cách của một người lãnh đạo một nước được coi là văn minh: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”.
Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” - tức du côn, côn đồ.

Rồi ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đơn phương ngừng vận chuyển hành khách xe lửa liên vận tới Việt Nam, rất nhiều cán bộ, sinh viên Việt Nam từ Liên Xô Đông Âu trở về bị đọng lại trong nhà khách sứ quán chờ đường hàng không và cuối cùng đến đầu tháng 1 năm 1979 đường bay Bắc Kinh Hà Nội cũng bị cắt.

Đầu tháng 1 năm 1979 quân đội Việt Nam bất ngờ phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, chỉ trong thời gian ngắn đã đập tan sức chống cự của bè lũ Polpot, tiến vào giải phóng Phom Penh. Đây cũng là điều mà Đặng Tiểu Bình không ngờ.

Lại một quả đắng khó nuốt nữa đối với nhà lãnh đạo Trung Quốc này.

'Không đánh nhau không xong'

Cuối tháng 1 năm 1979 Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, được Tổng thống Carter đón tiếp với nghi lễ rất cao, hai nước quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao, và không biết còn bàn bạc gì nữa? Trên đường về nước Đặng Tiểu Bình ghé qua Nhật Bản.

Trước những tình hình trên, một số anh em nghiên cứu chúng tôi đã khẳng định khá sớm: hai nước anh em thân thiết như răng với môi này không đánh nhau một trận không xong! 

Lý trí mách bảo như vậy, thậm chí còn mách bảo hơn nữa: Trung quốc đã từng gây cuộc chiến tranh biên giới với Ấn Độ và nhất là với Liên Xô và cả hai lần họ đều bất ngờ ra tay trước.

Thế nhưng về mặt tình cảm (bây giờ nhìn lại thì còn có cả sự ngây thơ, cả tin nữa) vẫn hy vọng dù chỉ là chút ít thôi: quan hệ Việt Trung đã từng gắn bó, sâu nặng như vậy, họ không thể một sớm một chiều trở mặt được.

Không nói tới những khoản viện trợ to lớn có hiệu quả, những tình cảm thân thiết như anh em trước đây, mà ngay trong những giờ phút căng thẳng này, tôi vẫn không thể quên được những việc làm tốt hay tỏ ra biết điều của một số cán bộ Trung Quốc:

Năm 1977, Nhà máy dệt Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho ta, sau một hồi chạy thử vẫn không hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp cho ta bí quyết. Khi các chuyên gia Trung Quốc khác thấy kết quả đó, không biết do ai chỉ đạo, họ đã “xử lý” một cách tàn bạo, anh bị đánh tới chết.

Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ điều về nước, một số đồng chí đã để lại khá nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho ta. Tôi biết chiếc cầu Chương Dương do ta tự thiết kế thi công sau này đã dùng một số sắt thép do phía Trung Quốc đưa sang để dựng cầu Thăng Long.

Mặc dù khi truyền hình trực tiếp , Trung Quốc không thể cắt được câu nói lỗ mãng của Đặng Tiểu Bình: Việt Nam là côn đồ, nhưng báo chí chính thức ngày hôm sau của Trung Quốc đã cắt bỏ câu này khi đưa tin ( chỉ còn đăng câu “phải dạy cho Việt Nam bài học” , nghĩa là đỡ tệ hơn).

Chúng tôi đã làm gì?

Trong bối cảnh trên, cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu ngày 17/2/1979 do nhà cầm quyền Trung Quốc - mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình, phát động, về tổng thể không bất ngờ đối với chúng tôi, nhưng về thời gian cụ thể và nhất là về qui mô binh lực mà Trung Quốc sử dụng thì quả là không tính tới.

Sau này những day dứt về dự báo không chính xác trên đã có phần giảm bớt, khi được biết có một số cán bộ trung cấp và một số đơn vị quân đội Trung Quốc chỉ sau khi đã tiến vào lãnh thổ nước ta rồi họ mới biết là phải đi đánh Việt Nam.

10 giờ tối ngày 17/2/79( tức 9 giờ tối Việt Nam) tôi bật đài nghe tin của đài tiếng nói Việt Nam, không thấy có tin quan trọng nào liên quan đến hai nước, tôi chuyển đài khác nghe tin.

Khoảng 10 giờ 30 phút đồng chí Trần Trung, tham tán đại biện lâm thời( thời gian này đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh về Việt Nam họp) đến đập mạnh vào cửa phòng tôi: Dy, lên phòng hạnh phúc họp ngay, Trung Quốc đánh ta rồi! 

"Về mặt tình cảm (bây giờ nhìn lại thì còn có cả sự ngây thơ, cả tin nữa) vẫn hy vọng dù chỉ là chút ít thôi: quan hệ Việt Trung đã từng gắn bó, sâu nặng như vậy, họ không thể một sớm một chiều trở mặt được".
Ít phút sau, một số đồng chí có trách nhiệm đã có mặt đông đủ. Đồng chí Trần Trung phổ biến tình hình nhà vừa thông báo: sáng sớm ngày 17/2, bọn bành trướng Trung Quốc đã tấn công trên toàn tuyến biên giới trên đất liền ( 6 tỉnh của Việt Nam lúc đó) với qui mô 20 sư đoàn bộ binh.

Hai sư đoàn chủ lực của ta cùng với bộ đội địa phương và anh chị em dân quân du kích đang anh dũng chống trả.

"Nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là dịch ngay bản Tuyên Bố của chính phủ ta ra 3 tiếng Trung, Anh, Pháp để phục vụ cho cuộc họp báo quốc tế sẽ phải tổ chức và để thông bào càng rộng càng tốt cho một số nhân dân Trung Quốc biết rõ sự thực."

Bộ phận dịch tiếng Trung, dưới sự chỉ huy của anh Thái Hoàng-Bí thư thứ nhất, gồm hai đồng chí Hoàng Như Lý, bí thư thứ ba và Chu Công Phùng cán bộ phòng chính trị, đã dịch văn bản một cách “ngon lành”; đồng chí Lê Công Phụng, bí thư thứ ba phụ trách phần dịch tiếng Anh cũng không vất vả gì; riêng phần tiếng Pháp, đồng chí Minh, phiên dịch tiếng Pháp do mới ra trường không lâu, nên có đôi lúc tỏ ra luống cuống.

Guồng máy dịch, in roneo, soát, sửa lại bản in nhanh chóng chạy đều, mọi người làm việc không biết mệt với lòng căm giận bọn bành trướng.

Thi thoảng mấy câu chửi bọn chúng như kìm nén không nổi lại khe khẽ bật ra từ vài đồng chí. Không căm tức uất hận sao được?

Khi chúng tôi hoàn thành công việc thì trời đã hửng sáng (đài BBC sau đó đã đưa tin, tối ngày 17/2/1979 toàn Đại sứ quán Việt Nam để sáng đèn).

Những người ngoài 40, 50 chúng tôi sau một đêm vất vả không ngủ vẫn tỏ ra bình thường nhưng riêng hai đồng chí Phùng và Minh đang tuổi ăn tuổi ngủ, tuy được đồng chí Đặng Hữu-Bí thư thứ nhất, tiếp sâm, nhưng vẻ mặt sau một đêm căng thẳng đã lộ nét mệt mỏi. Thương cảm vô cùng.

Tuy vậy, chúng tôi đã nhanh chóng bước vào ngày làm việc mới với tất cả sức mạnh tinh thần và lòng căm thù bọn bành trướng bá quyền, nước lớn.

Quá khứ 30 năm

Cuộc chiến tranh do nhà cầm quyền Bắc Kinh mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình gây ra, kết thúc đã 30 năm.

Sau khi bình thường hóa, quan hệ hai nước nhìn chung phát triển khá tốt.

Tuy nhiên cần nhấn mạnh một điều, vì nghĩa lớn, chúng ta đã thực hiện đúng lời cam kết: không nhắc lại chuyện cũ. Nhưng ở phía bên kia, một số kẻ không biết điều, vẫn thường xuyên, xuyên tạc sự thật lịch sử, rêu rao, tự cho là đã “giành thắng lợi”, là “chính nghĩa”, là “Việt Nam bài Hoa, Việt Nam chống Hoa, Việt Nam “xua đuổi nạn kiều”, Việt Nam xâm lược Cămpuchia” v.v..

Cho đến hôm nay, một số cuốn sách lịch sử, sách nghiên cứu, không ít bài thơ, truyện, ký…vẫn nhai lại những luận điệu trên dù hai nước đã bình thường hóa quan hệ được gần hai chục năm. 
clip_image006

"Vết thương chung phải do cả hai bên cùng đồng tâm, thành ý chữa trị thì mới có thể lành hẳn". 
.
Tôi nghỉ hưu đã được hơn mười năm nhưng do vẫn tiếp tục nghiên cứu về Trung Quốc, nên thỉnh thoảng vẫn có dịp gặp các bạn cũ công tác tại Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trước đây cũng như nhiều học giả Trung Quốc.

Không dưới một lần tôi đã thân tình và nghiêm túc nhắc họ: nếu các bạn chỉ nhận phần đúng trong những việc xảy ra trong thời gian trước đây, đổ hết lỗi cho cho người khác thì quan hệ Việt Trung dù ai đó có dùng những chữ vàng để tô vẽ cũng không thể nào xóa bỏ được những vết hằn lịch sử do người lãnh đạo của các bạn gây ra, quan hệ hai nước không thể nào thực sự phát triển tốt đẹp được, vì những hoài nghi lớn của nhân dân hai bên chưa được giải tỏa?

Mong rằng một số nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay nên nhớ chuyện sau: nếu không biết lời dặn của Chủ tịch Mao với đoàn cố vấn Trung Quốc khi sang giúp Việt nam thời kỳ chống Pháp: ‘Tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ cho cha ông’; và nếu không thấy trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thủ tướng Chu đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà, thì chắc chắn những người Việt Nam thời đó không dễ quên được chuyện cũ để nhanh chóng hòa hiếu với Trung Quốc như sau đó đâu?

Vết thương chung phải do cả hai bên cùng đồng tâm, thành ý chữa trị thì mới có thể lành hẳn.

Chúng ta không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên.
   
D. D. D.
Nguồn: bbc.co.uk


Nhớ ngày xuân này 33 năm trước

Xin được đăng lại một bài báo được ông  Dương Danh Di - cựu cán bộ đại sứ quán ta tại TQ- Giới thiệu trên NXD blog:


DƯƠNG DANH DY GIỚI THIỆU MỘT BÀI BÁO TRUNG QUỐC VIẾT VỀ 2.1979


Trong cuộc “đánh trả tự vệ” Việt Nam năm 1979:
Vì sao không chia cắt Việt Nam, thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?
Lời dẫn của Dương Danh Dy: Nhân dịp 33 năm cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung do nhà cầm quyền Trung Quốc lúc đó phát động, xin giới thiệu một bài viết được đăng trên một mạng chính thức của Trung Quốc.

Hy vọng đọc bài viết này bà con trong nước và kiều bào ở nước ngoài sẽ thấy rõ thêm “bụng dạ thật” của ngưòi láng giềng bốn tốt. Mong những ai còn mơ hồ, ảo tưởng hãy tỉnh ngộ.
                                                                                    Dương Danh Dy

Năm 1979, trong trận đánh trả tự vệ Việt Nam, quân đội Trung Quốc với thế  nhanh chóng tấn công, quân Việt từng bước tan rã, quân đội Trung Quốc nhắm thẳng Hà Nội. Sau đó Trung Quốc tuyên bố trận đánh đã đạt mục đích, tự rút quân về nước.

Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền và miêu tả rằng chúng ta đã thắng lợi  và Việt Nam đã thất bại, nhưng cùng với thời gian những văn kiện của chính quyền và tư liêụ của Việt Nam cho thấy, cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc.

Thứ nhất, kỷ luật quân sự nghiêm túc đã làm quân ta phải trả giá trầm trọng.

“Ba kỷ luật lớn, tám điều chú ý” mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng lớn trong cuộc nội chiến Quốc, Cộng là vì qua đó đã thể hiện được chính nghĩa, công bằng của quân đội ta, thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh quân đội và chính quyền Việt Nam mà vẫn thực hiện “ba kỷ luật lớn tám điều chú ý” là tự trói chân chói tay mình lại, hy vọng dùng những cái đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt nam thì chẳng khác gì đàn gẩy tai trâu, tự chuốc lấy nhục. Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào đất nước họ? Khi quân đội chúng ta gần gũi và yêu mến dân chúng Việt Nam, dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc và quân đội Việt Nam ở lẫn trong đó  sẽ tìm cớ hạ độc thủ quân đội Trung Quốc, và số quân dội Trung Quốc bị hy sinh bởi phưong thức này không thể đếm được, có đau thưong không?

Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm người ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai đi ăn cắp chuông, tự lừa dối mình và lừa dối người.

Thứ hai, không quân phát triển trì trệ, lạc hậu không có sức công kích.

Đánh trả tự vệ Việt Nam cực kỳ ác liệt, khi bộ đội mặt đất khó tiến công về phia trước, lục quân mong mỏi nhất là có sự chi viện mạnh mẽ của không quân, thế nhưng trong lúc mỏi mắt mong chờ, không quân Trung Quốc vấn im lặng. Trong khi đó không quân Việt Nam đã khiêu chiến trước nhưng trước số lưọng máy bay Trung Quốc đông gấp nhiều lần chúng dã bỏ chạy, ta bắn tên lửa đuổi theo nhưng không trúng. Có bắn rơi máy bay địch nhưng là công của bộ đội mặt đất.

Vì sao không quân Trung Quốc lại quẫn bách như thế? Một mặt không quân chúng ta thiếu thiết bị định vị, không có nó tên lửa không thể bắn trúng mục tiêu. Một mặt là do ảnh hưỏng của cách mạng văn hoá lâu dài, không quân không bay đủ  giờ bay huấn luyện, khi huấn luyện lại giảm các tiết  mục bay khó… cho nên không có phi công giỏi

Thứ ba, hải quân Biển Đông lúc đó còn chưa phát triển. Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam. Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giói trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ? Chẳng lẽ lo rằng chiến sự sẽ leo thang vô hạn ư? Chẳng phải là hai nước đã đánh nhau toàn diện rồi ư? Chẳng lẽ đó không phải là đảo, bãi của ta? Thế mà chẳng phải là chúng ta vẫn luôn kêu gào rằng đó là lãnh thổ thần thánh không thể xâm phạm của mình?

Điều giải thích duy nhất là hải quân của chúng ta chưa đủ, không chỉ chưa đủ để đánh lùi hải quân Việt Nam chiếm giữ đảo bãi của ta mà còn khó có thể đóng giữ ở đó, đánh lùi được kẻ địch tới xâm phạm. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là các đảo bãi trên Biển Đông dưòng như đã bị các nước láng giềng xung quanh chia nhau chiếm hết rồi. Cho đến nay hải quân của chúng ta vẫn chưa dùng tới sức đã có của mình để giải phòng và bảo vệ các đảo, bãi thiêng liêng đó.

Thứ tư, sức ép bên ngoài thúc giục rút quân, tổn thất trầm trọng.

Khi quân đội ta đã tiến gần Hà Nội, dưói sức ép của thế lực quốc tế đứng đầu là Liên Xô, chúng ta không chỉ tuyên bố đình chỉ tấn công, mà còn công khai tuyên bố lập tức rút quân. Nhà đưong cục Việt Nam đang lúc kinh hồn hoảng sợ đã lập tức tuyên bố phản công toàn tuyến, quân đội Trung Quốc đang ở thế vừa công vừa thủ  nên so với lúc tấn công đã bị thưong vong nặng nề.

Đó là một sai lầm chính trị và quân sự to lớn, trước khi rút quân đã tuyên bố rút sẽ khiến kẻ thù dễ dàng có thời gian và không gian chuẩn bị phản kích, địch có chuẩn bị còn ta thì không, địch thong dong mà chúng ta vội vã, không bị thương vong lớn mới là chuyện lạ.

Thứ năm, chia cắt Việt Nam để mất thòi cơ tốt.

Đánh Việt Nam chúng ta chỉ muốn dạy cho nhà đưong cục Việt Nam một chút, nên quân gần đến Hà Nội đã vội vàng rút quân. Cho dù chúng ta đã đánh vào vùng đất hiểm của Việt nam, đã là xâm lựoc rồi sao còn cố sống cố chết giữ lấy cái mặt nạ chính nghĩa, tự cho mình là những đấu sĩ chính nghĩa. Quân đội đã tới gần Hà Nội, một nửa Việt Nam đã ở trong tay chúng ta, giả sử chúng ta không muốn tiếp tục tiến nữa để hoàn toàn tiêu diệt nhà đương cục Việt Nam, thì cũng nên gây dựng một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc. Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra nam bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc.

Một khi điều đó xảy ra, một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc, hoặc một chính quyền Bắc Việt Nam thân Trung Quốc sẽ trở thành láng giềng hữu hảo của Trung Quốc, không chỉ một lần ra tay, có thể giải quyết xong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam mà còn có thể từ một cú đánh, đập tan hành vi bá quyền của Việt Nam tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là chúng ta đã không có tính toán đó, không có chiến lược đó,  nói làm gì đến chuyện có sự chuẩn bị trước.

Đánh trả tự vệ đã hơn ba mưoi năm rồi, cục diện quốc tế đã mấy lần bãi biển nưong dâu, bộ mặt Trung Quốc cũng mấy lần đổi mới , Trung Quốc không còn là Trung Quốc ngày xưa nữa.

Thế nhưng cần tổng kết quá khứ, để nghênh đón tưong lai. Từ trong sai lầm lịch sử chúng ta phải tìm ra trí tuệ mới…, xây dựng quốc phòng hùng mạnh, xây dựng một nước Trung Hoa quật khởi và hưng thịnh
                                                                 Dương Danh Dy(gt)

Nguồn China.com ngày 20/2/2011( Võng thưọngđàm binh: đối Việt phản kích chi cảm: vi hà bất chi giải Việt Nam, tán thoái tỷ tấn công thương vong đa).
*Bài giới thiệu do Ông Dương Danh Dy gửi trực tiếp cho NXD-Blog.


Xin cảm ơn bác Dương Danh Di và NXD blog

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Ngày xuân đọc lại Hương Quỳnh (PIII)

AI VỀ PHÚ THỌ
        Lê Xuân Hường CN CLB Hương Quỳnh


Mải miết công lênh chốn viễn phương
Xuân về lòng lại nhớ quê hương
Đền Hùng mộ tổ bao xao xuyến
Chùa cổ Thiên quang những vấn vương
Mạo phổ tưng bừng mừng lễ hội
Sông Thao lấp lánh ánh trăng sương
Ai về Phú thọ cho tôi gửi
Một chút tâm tình tới cố hương
                      Xuân Kỷ mão




CHIỀU MƯA
        Tuyết Vinh


Em đi bên anh chiều mưa
Trận mưa chiều ấy bất ngờ làm sao
Mưa xối xả, mưa ào ào
Nghiêng đầu em đứng nép vào bên anh


Hiên nhà không chủ vắng tanh
Chỉ hai đứa mình đứng nép bên nhau
Hơi thở anh ấm mái đầu
Hạt mưa nhòm trộm rủ nhau xối hoài


Thạch sùng tấm tắc bên tai
Ngó ngiêng ngơ ngác, hiên ngoài vẫn mưa
Chim sẻ vụt đến bất ngờ
Rủ nhau về tổ kẻo mưa còn dài


Chiều mưa chẳng hẹn cùng ai
Chỉ tình yêu muốn có hoài chiều mưa




HỎI LÒNG
       Đặng Thế Tê


Hay chăng một tứ thơ nghèo
Đủ làm ấm lại sắc chiều cuối đông
Hỏi lòng lòng có lạnh không
Hỏi người người có còn trông hỡi người


Hay là mấy độ đầy vơi
Hay là vật đổi sao dời dễ thay
Truân chuyên chung đúc tình này
Dẫu qua năm tháng dám lay chuyển lòng




NẬM NGỪM
      Nguyễn Thanh Trà


Thôi đành bỏ lại Viên chăn
Bữa cơm trưa, bãi cỏ xanh nước Lào
Váy xòe dáng mới đẹp sao
Hững hờ mảnh vải quấn vào như không


Rượu mới nhấp đã nao lòng
Trời xanh cứ ngỡ như không phải trời
Rừng trưa dậy tiếng ve sôi
Chỉ thấy em, chẳng biết trời đất đâu


Mắt em chẳng dám nhìn lâu
Sợ chết đuối giữa hồ sâu Nậm Ngừm