Ngày này cách đây đúng 39 năm, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Hành động phi pháp ấy đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam và sự lên án mạnh mẽ của thế giới.
Ngày 25.11.2011, trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập tới hai thời điểm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: “Năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền VNCH lúc đó đã phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này”. Thủ tướng cũng cho biết Chính phủ Việt Nam sẽ kiên trì đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.
Phát biểu của người đứng đầu Chính phủ của một đất nước Việt Nam thống nhất đã nhắc chúng ta nhớ tới một ngày bi tráng của 39 năm về trước, khi đất nước còn chia đôi. Đó là ngày 19.1.1974, Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm cùng quân nhân VNCH đã chiến đấu quyết liệt, nhưng cuối cùng với một lực lượng mạnh hơn, Trung Quốc đã chiếm được cụm phía tây của quần đảo Hoàng Sa, sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950, qua đó chiếm đóng phi pháp toàn bộ quần đảo này từ đó đến nay.
Xâm lăng
Trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra trong khoảng 30 phút vào ngày 19.1.1974, nhưng trước đó nhiều ngày, Trung Quốc đã bắt đầu những chuyển động cho hành trình xâm lược của mình. Ngày 10.1, tàu Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trong khu vực cụm tây quần đảo Hoàng Sa. Sau đó một ngày, Bộ Ngoại giao nước này phát đi từ Bắc Kinh tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc và VNCH đang chiếm đóng phi pháp. Ngay lập tức, Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã bác bỏ luận điệu ngang ngược này và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc.
Lúc bấy giờ, về mặt quân sự, phía Việt Nam chỉ có một trung đội địa phương quân thuộc Chi khu Hòa Vang trú đóng trên đảo Hoàng Sa. Để tăng cường sức mạnh bảo vệ biển đảo, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải vào ngày 15.1 đã ra lệnh cho tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), do trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng, trực chỉ Hoàng Sa. Tiếp theo, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do trung tá Vũ Hữu San chỉ huy đang tuần tra vùng biển ngoài khơi Quảng Ngãi cũng được lệnh tức tốc tới bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó, do diễn biến phức tạp, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) cũng đã được điều động. HQ-5 là soái hạm, với hạm trưởng là trung tá Phạm Trọng Quỳnh; còn HQ-10 do thiếu tá - Hạm trưởng Ngụy Văn Thà chỉ huy. Ban Chỉ huy công tác trên biển của chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa được đặt trên tàu HQ-5, với đại tá Hà Văn Ngạc thừa lệnh Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải làm chỉ huy trưởng.
Trong thời gian này, phía Trung Quốc đã cho tàu cá chở quân lính giả dạng ngư dân tiến chiếm một số đảo. Công điện 50.356 của Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải gửi HQ-4, HQ-5 và HQ-16 cho biết: “Trung Cộng đã bất thần tiến chiếm các đảo Robert (Cam Tuyền - NV), Duncan (Quang Hòa), Drummond (Duy Mộng) và Money (Vĩnh Lạc) thuộc quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 10.1.1974. Hiện có 2 tàu loại 100 tấn neo đậu tại đảo Robert... Trên đảo Duncan có 1 chòi quan sát... Tại đảo Money có 1 hầm còn mới...”. Công điện còn cho biết phi cơ của Sư đoàn 1 Không quân đang trực ở sân bay Đà Nẵng. Nhiệm vụ được giao cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa là trước hết sử dụng đường lối ôn hòa, yêu cầu kẻ địch rút khỏi lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp địch khai hỏa thì “tập trung khả năng để tiêu diệt địch”, lệnh từ văn phòng chỉ huy ở Đà Nẵng truyền ra cho HQ-5 nêu rõ.
Lúc bấy giờ, lực lượng chiến đấu của phía Trung Quốc có 11 tàu, trong đó có 2 tàu chống ngầm Krondstadt, 2 tàu quét lôi, vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến và một số tàu chở quân. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội quân dự phòng ở Hải Nam, trong đó có nhiều tàu tên lửa Komar và Osa.
Nổ súng
Sáng sớm 19.1, một toán Biệt hải từ HQ-4 và một đội Hải kích từ HQ-5 chia làm hai mũi dùng bè cao su đổ bộ lên tái chiếm đảo Quang Hòa. Một cuộc đọ súng xảy ra giữa quân VNCH và quân Trung Quốc đã chiếm đảo này từ trước cùng với số mới đổ bộ từ các chiến hạm gần đấy. Cuộc giao tranh này khiến 2 quân nhân VNCH tử thương và sau đó, do quân số ít hơn rất nhiều, hai toán đổ bộ của VNCH đã phải rời đảo, trở lại tàu.
Lúc này, các tàu chiến trên biển đã di chuyển theo đội hình chiến thuật, bộ chỉ huy trên soái hạm HQ-5 chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm thành viên để tiêu diệt. Theo đó, HQ-5 đối đầu tàu Krondstadt 274; HQ-4 đối đầu Krondstadt 271; HQ-10 đối đầu trục lôi hạm 396; HQ-16 đối đầu trục lôi hạm 389. Lúc 10 giờ 22 sáng 19.1.1974, lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm Trung Quốc được ban hành từ HQ-5. Thông tin công khai trước đây cho rằng tàu Trung Quốc đã nổ súng trước. Tuy nhiên, mới đây, nguyên Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San xác nhận rằng, lúc bấy giờ, tàu chiến của VNCH đã “chủ động khai hỏa”. Ngay trong những phút đầu, một chiếc Krondstadt đã bị trúng đạn bốc cháy. Sau đó, chiếc Krondstadt thứ hai cũng hư hại và phải ủi vào rạn san hô gần đó để khỏi chìm. Phía VNCH cũng chịu tổn thất khi HQ-4 và HQ-5 đều trúng đạn nhưng vẫn còn chiến đấu được; HQ-16 bị hư hại nặng hơn và phải dần rút khỏi vòng chiến. Riêng HQ-10, là tàu nhỏ nhất, bị bắn chìm và Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận.
Đến gần 11 giờ, có tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang tăng viện với các tàu tên lửa Komar xuất hiện từ phía xa. Nhận thấy tình thế bất lợi, chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rời vùng giao tranh. Trong cuộc chiến này, theo con số thống kê chưa đầy đủ, 53 quân nhân VNCH đã bỏ mình vì nước; một số quân nhân và nhân viên khí tượng bị bắt làm tù binh và đã được trao trả sau đó. Phía Trung Quốc có 4 tàu bị bắn hỏng và 18 binh sĩ chết.
Sau trận chiến ngắn ngủi nhưng ác liệt, Trung Quốc đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Dù thế, trận hải chiến 1974 một lần nữa khẳng định ý chí bất khuất của người Việt Nam trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền. Trước một kẻ thù mạnh hơn và trong một tình hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi, các quân nhân đã kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lăng. Cuộc chiến đó cũng một lần nữa làm nổi rõ tính phi nghĩa của Trung Quốc tại Hoàng Sa và trên toàn biển Đông về sau, như tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH số 015/BNG sau trận hải chiến 1974 đã vạch rõ: “Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ VNCH”. Hành động dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của nước khác đi ngược lại với Hiến chương LHQ, và vì thế, dù cho đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa gần 40 năm qua, Trung Quốc mãi mãi vẫn không có được một tư cách hợp pháp đối với vùng lãnh thổ này.
Đỗ Hùng
Cảm ơn tác giả và trang TN online
|
Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013
Quyết liệt vì Hoàng sa
Xin tải về bài:
Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013
TỬ HUYỆT THỨ BA
Trong bức thư gửi ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 6 năm 2011, phần 3, đoạn cuối tôi có ghi bài thơ:
Những người vô sản nhất
Hàng triệu công nhân trên các đại công trường
Và trong các khu công nghiệp
Rời xa quê hương
Sống không gia đình họ tộc
Không tấc đất cắm dùi
Không nhà ở, không bệnh viện và không trường học
Càng không có tư liệu sản xuất
HỌ LÀ NHỮNG NGƯÒI VÔ SẢN NHẤT
Họ đang bị tư bản nước ngoài bóc lột
Ngay trên đất nước mình
Mà không biết kêu ai
Họ không được đình công, không được biểu tình
Không có quyền tự bảo vệ
Họ cũng không có người đại diện
Không có tổ chức công đoàn
Không đoàn thanh niên
Không hội phụ nữ
Không biết họ có không chi bộ?
- Rằng không!
Vậy có còn không đảng tiền phong của giai cấp công nhân
Đảng của những người vô sản?
Vậy có còn không đảng của chính mình
Đảng cộng sản?
Và tôi viết tiếp:
Đảng cộng sản?
Và tôi viết tiếp:
"Bài thơ này tôi viết đã lâu, hồi mới rộ lên các khu công nghiệp, tôi chưa đọc ở chỗ nào và ông là người đầu tiên tôi gửi đến. Đây là hình ảnh tập trung nhất về thực trạng người lao động, không chỉ trong các khu công nghiệp, các công trường, mà ở cả nông thôn, thành thị, nơi những người cần lao đang đối mặt với cuộc sống, cuộc mưu sinh khắc nghiệt.
Xin nói thực với ông, đảng chỉ hiện diện đậm đặc nhất ở các cơ quan ban nghành của đảng, ở các cơ quan công quyền, ở chóp bu các công ty, tập đoàn nhà nước…Nói chung ở nơi nào có nhiều quyền lợi và nhiều quyền lực nhất. Còn càng xa quyền lợi và quyền lực thì mật độ đảng càng giảm... Ở đấy dân tự lo, tự bươn chải, ơn trời là họ đã tự vượt qua được để tồn tại, dù không ít những khi bị nhũng nhiễu bởi chính những “đầy tớ” ở trong các cơ quan “hành là chính” của mình."
Lúc ấy- Khi viết bức thư này- tôi đã nghĩ đây là khiếm khuyết chết người của đảng, bởi vì đảng đã đi ngược lại lợi ích của giai cấp, đã phản bội công nhân, nông dân, trí thức và người lao động, đặc biệt là công nhân và nông dân. Thậm chí người nông dân còn bị lừa gạt bởi khẩu hiệu "người cày có ruộng" để dốc lòng theo đảng làm cách mạng. Đến khi giành được chính quyền thì nông dân bị đẩy đến chỗ không còn quyền sở hữu ruộng đất, đã đang và sẽ mất dần quyền sử dụng đất bất cứ lúc nào khi các nhóm lợi ích nấp dưới bóng công quyền nhòm ngó đến. Hàng triệu công nhân trong các khu công nghiệp chính là nông dân bị bần cùng hóa, họ trở thành vô sản và đang bị tư bản bóc lột. Điều trớ trêu nhất, một nghịch lý, mâu thuẫn lớn nhất là đảng của giai cấp công nhân lại không hề hiện diện ở đó, họ ở đâu "trên cao" và tàn nhẫn bỏ rơi giai cấp cần lao đã khai sinh ra mình.
Một lý thuyết không thể tự mâu thuẫn. Một học thuyết, một thể chế cũng vậy. Một khi đã tự mâu thuẫn, một khi xuất hiện nghịch lý là lý thuyết mất hết giá trị, và nếu là thể chế, thì thể chế ấy sẽ phải tan rã.
Nghịch lý này do đảng tạo ra và chính nó là tử huyệt thứ ba của đảng, sau hai tử huyệt mà giáo sư Hoàng Xuân Phú đã nêu.
Lúc ấy- Khi viết bức thư này- tôi đã nghĩ đây là khiếm khuyết chết người của đảng, bởi vì đảng đã đi ngược lại lợi ích của giai cấp, đã phản bội công nhân, nông dân, trí thức và người lao động, đặc biệt là công nhân và nông dân. Thậm chí người nông dân còn bị lừa gạt bởi khẩu hiệu "người cày có ruộng" để dốc lòng theo đảng làm cách mạng. Đến khi giành được chính quyền thì nông dân bị đẩy đến chỗ không còn quyền sở hữu ruộng đất, đã đang và sẽ mất dần quyền sử dụng đất bất cứ lúc nào khi các nhóm lợi ích nấp dưới bóng công quyền nhòm ngó đến. Hàng triệu công nhân trong các khu công nghiệp chính là nông dân bị bần cùng hóa, họ trở thành vô sản và đang bị tư bản bóc lột. Điều trớ trêu nhất, một nghịch lý, mâu thuẫn lớn nhất là đảng của giai cấp công nhân lại không hề hiện diện ở đó, họ ở đâu "trên cao" và tàn nhẫn bỏ rơi giai cấp cần lao đã khai sinh ra mình.
Một lý thuyết không thể tự mâu thuẫn. Một học thuyết, một thể chế cũng vậy. Một khi đã tự mâu thuẫn, một khi xuất hiện nghịch lý là lý thuyết mất hết giá trị, và nếu là thể chế, thì thể chế ấy sẽ phải tan rã.
Nghịch lý này do đảng tạo ra và chính nó là tử huyệt thứ ba của đảng, sau hai tử huyệt mà giáo sư Hoàng Xuân Phú đã nêu.
Phản đối Trung cộng ngang nhiên công bố bản đồ thâu tóm biển Đông
Xin tải về bài:
Trung Quốc ngang nhiên công bố bản đồ thâu tóm biển Đông
MỸ LOAN | 13/01/2013 07:48 (GMT + 7)
TT - Sau khi phát hành hộ chiếu điện tử có bản đồ đường chín đoạn (đường lưỡi bò) bị dư luận quốc tế và khu vực phản đối mạnh mẽ, Bắc Kinh lại tiếp tục gây hấn bằng việc công bố tập bản đồ mới, gộp toàn bộ các đảo trên biển Đông vào Trung Quốc.
- Bản đồ địa hình Trung Quốc do Sinomaps Press ấn bản và phát hành, bao gồm 130 đảo lớn nhỏ ở biển Đông - Ảnh: huanqiu.com
TIN BÀI LIÊN QUAN
TỪ KHÓA
Tân Hoa xã ngày 12-1 loan báo lần đầu tiên Trung Quốc đã in chi tiết các đảo ở biển Đông vào bản đồ “địa hình Trung Quốc” của nước mình. Cùng ngày, Cục Tin tức địa lý đo vẽ quốc gia Trung Quốc (NASMG) tuyên bố bản đồ này bao gồm 130 đảo lớn nhỏ ở biển Đông.
Phần lớn các đảo này chưa hề được mô tả trong những bản đồ dạng ngang trước đây của Trung Quốc, nay được thay thế bằng bản đồ dạng thẳng đứng để dễ dàng mô tả chi tiết các đảo đá, bãi ngầm trên biển Đông và gộp vào thành lãnh thổ của Trung Quốc.
Tập bản đồ mới này do Tập đoàn xuất bản bản đồ Trung Quốc (Sinomaps Press) in ấn, dự kiến cuối tháng 1-2013 sẽ phát hành trên toàn Trung Quốc.
Trắng trợn biến lãnh thổ nước khác thành ao nhà!
Với việc công bố này, NASMG đã công khai thừa nhận trong những bản đồ nằm ngang trước đây họ chỉ mô tả những quần đảo lớn như Trường Sa, Hoàng Sa, đảo Phú Lâm của Việt Nam và bãi cạn Scarborough do Philippines kiểm soát chứ chưa hề thu gom những đảo và bãi ngầm khác. Điều này trái ngược với luận điệu dựa trên cái gọi là chứng cứ lịch sử mà Bắc Kinh từng tuyên bố trước đây để chứng minh “chủ quyền cố hữu” của mình ở biển Đông.
Nhân Dân Nhật Báo dẫn lời ông Từ Căn Tài, giám đốc Sinomaps Press, cho rằng tập bản đồ mới này không chỉ gộp các đảo lớn nhỏ ở biển Đông vào lãnh thổ Trung Quốc, mà còn thể hiện mối quan hệ vị trí địa lý của quần thể các đảo này.
Ông giám đốc này còn ngang ngược khẳng định tập bản đồ mới này sẽ trở thành tài liệu giúp người dân tăng cường nhận thức về “lãnh thổ quốc gia, bảo toàn quyền và lợi ích biển của Trung Quốc cũng như minh định lập trường ngoại giao chính trị của Trung Quốc”! Tân Hoa xã còn khẳng định với tấm bản đồ mới này, Trung Quốc càng có thêm bằng chứng “mang sức mạnh trực quan” để bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình!
Rõ ràng đây là hành vi xâm phạm và xâm lấn lãnh thổ của nước khác, là hành vi gây hấn mới của Bắc Kinh, thể hiện lộ liễu mưu đồ thôn tính và thâu tóm toàn bộ biển Đông của Trung Quốc.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng động thái mới này của Bắc Kinh làm lộ rõ ba vấn đề. Một là, qua vụ “hộ chiếu có in hình đường lưỡi bò” và nay là qua vụ tấm bản đồ của Nhà xuất bản Sinomaps Press, cộng đồng quốc tế càng nhìn thấy rõ hơn bản chất nước lớn của Trung Quốc.
Hai là, những việc làm gần đây của Trung Quốc trên biển Đông đã ngang nhiên thách thức dư luận khu vực và thế giới.
Ba là, tất cả động thái của Trung Quốc đã góp phần thức tỉnh những ai còn ảo vọng về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.
Chỉ bất lợi cho Trung Quốc
Cùng với việc loan báo bản đồ của NASMG, Tân Hoa xã còn cho biết từ năm 2013, Cục Hải dương Trung Quốc sẽ tăng cường các hoạt động bảo hộ hàng hải ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cục phó Cục Hải dương Trung Quốc Trần Ái Bình cho biết Trung Quốc sẽ xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật thông tin trên biển như hệ thống theo dấu và nhận biết đường đi của tàu thuyền, hệ thống tự động nhận biết tàu. Ngoài ra, Trung Quốc còn cho phủ sóng viễn thông ở các khu vực này, giám sát thông tin liên lạc trong phạm vi lên đến trên 1.000 hải lý (khoảng 1.852km).
Ông Bình cũng cho biết năm nay Trung Quốc sẽ hoàn thiện hơn nữa việc phối hợp và bố trí lực lượng trên biển, tăng thêm lượng tàu và máy bay tuần tra để giám sát mọi hoạt động giao thông trên biển. Bắc Kinh sẽ tập trung xây dựng phao tiêu ở các vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam cũng như ở những nơi mà Trung Quốc cho là vùng duyên hải của mình.
Bắc Kinh cũng sẽ xây dựng các trạm thủy văn trên các đảo mà họ cho là thuộc chủ quyền của mình. “Cục Hải dương Trung Quốc sẽ phối hợp với hải quân để bảo vệ tàu thuyền Trung Quốc di chuyển trên các vùng biển này” - Tân Hoa xã dẫn lời ông Trần nhấn mạnh.
Giới quan sát cho rằng tuyên bố này đồng nghĩa với việc không sớm thì muộn tàu chiến Trung Quốc sẽ xuất hiện tại các vùng trọng yếu ở biển Đông. Câu hỏi đặt ra với những chính sách mới này là liệu Trung Quốc có đang đi theo con đường hợp tác hòa bình và hữu nghị cùng khai thác trên biển Đông như Bắc Kinh từng cam kết với khu vực hay không?
Học giả Lý Lệnh Hoa, cựu thành viên Trung tâm Tin tức hải dương Trung Quốc, nhận định nếu Trung Quốc cứ giằng co với các nước ở biển Đông thì sẽ không có lợi cho con đường phát triển và xây dựng của mình. Học giả này kêu gọi Trung Quốc hãy đi theo con đường đàm phán hòa bình để giải quyết các tranh chấp.
“Họ cứ khăng khăng đường chín đoạn là hợp pháp, song điều này chỉ làm cho tình hình Nam Hải (biển Đông) thêm rối ren và không có lợi cho Trung Quốc” - học giả Lý phê phán quan điểm cố chấp của một số quan chức, học giả, chuyên gia quân sự Trung Quốc hiện nay.
Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013
Hoài cổ của Võ Trung Hiếu
Hoài cổ
Võ Trung Hiếu
Cái thời đất nước còn chưa giàu – nghèo
Cái thời tình người trong veo
Cái thời mảnh ruộng con heo nuôi người
Cái thời nghèo rách mồng tơi
Nhưng rất ít những chuyện đời trái ngang
Cái thời quan chưa kịp tham
Và dân thời ấy chưa gian chưa liều
Nhưng rất ít những chuyện đời trái ngang
Cái thời quan chưa kịp tham
Và dân thời ấy chưa gian chưa liều
Cái thời mà người ta yêu
Không cần phải tốn thật nhiều đô-la
Cái thời hiếu với mẹ cha
Kính thầy yêu bạn, kính bà thương ông
Không cần phải tốn thật nhiều đô-la
Cái thời hiếu với mẹ cha
Kính thầy yêu bạn, kính bà thương ông
Cái thời tấm áo manh quần
Vá lên vá xuống mà tâm nguyên lành
Cái thời rau đắng nấu canh
Đơn sơ mà đượm thắm tình quê hương
Vá lên vá xuống mà tâm nguyên lành
Cái thời rau đắng nấu canh
Đơn sơ mà đượm thắm tình quê hương
Cái thời thong thả ra đường
Còn chưa có lũ bất lương hoành hành
Cái thời êm ả hoà bình
Đi đâu cũng gặp xông xênh nụ cười
Còn chưa có lũ bất lương hoành hành
Cái thời êm ả hoà bình
Đi đâu cũng gặp xông xênh nụ cười
Giá mà đất nước của tôi
Người ta sống được như thời ngày xưa
Người ta sống được như thời ngày xưa
29.10.2012
VTH
Tác giả gửi cho Quê choa
Cảm ơn Tác giả Võ Trung Hiếu và trang QC
HAI TỬ HUYỆT
Xin tải về bài:
hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu
Hai tử huyệt của chế độ
1553. Hai tử huyệt của chế độ
Posted by basamnews on 14/01/2013
Cảm ơn tác giả và trang BS.
Bài viết của giáo sư khúc chiết chặt chẽ như là lập luận toán học. Chưa bao giờ tôi thấy tư duy toán học lại cần như lúc này. Rất mong những người mẫn tuệ như giáo sư có thể xây dựng được một hệ tiên đề, hoặc một mô hình cho đất nước.
hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu
Hai tử huyệt của chế độ
Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng
- quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội , và
- quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý
tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992 là hai tử huyệt của chế độ . Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu.Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 .
Tử huyệt độc quyền lãnh đạo
Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ . Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.
Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản bội.
Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.
Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát” , thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng.Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?
Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.
Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.
Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.
Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.
Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân.Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.
Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.
Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.
Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 của Hiến pháp 1992 , thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội , được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai
Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân . Nhưng Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân .
“Sở hữu toàn dân” lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu . Trớ trêu thay, nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đi quyền sở hữu của toàn dân . Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.
Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu “dân cày có ruộng” . Chữ “có ruộng” ở đây đương nhiên là “sở hữu ruộng đất” , chứ không phải chỉ là“có quyền sử dụng đất” . Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức “sở hữu toàn dân” . Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?
Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền. Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh “công bộc” đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.
Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ “sở hữu toàn dân” ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành “của nợ”, vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.
Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh.Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.
Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?
Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó . Song lãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống . Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này.
*
* *
Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.
Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.
Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.
Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.
HXP
Hà Nội, 11/01/2013
Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013
QUÁN NGŨ PHÚC
Niên khóa 1959-1960 tôi học lớp 4 ở quán Ngũ phúc. Trường có hai dãy nhà, hình thước thợ. Dãy trước đối diện với cổng là lớp 3, lớp 4. Dãy kia là lớp 1, lớp 2. Phía sau có một cái nhà thờ nhỏ. Xế nữa, góc cuối, có một cây đa lớn. Thầy Phước dạy chúng tôi. Ngày ấy thầy còn trẻ, nước da trắng hồng, người cao dong dỏng, nhẹ nhàng nho nhã. Tôi nhớ thầy dùng ống đu đủ thổi vào chậu nước vôi trong, hồi lâu thì nước đục dần, để làm thí nghiệm chứng minh trong hơi thở ra có chứa khí cacbonic.
Nửa thế kỷ sau tôi về thăm thầy, thầy vẫn nhận ra đứa học trò thơ dại. Tìm lại trường xưa thì không còn đấy nữa. Ngậm ngùi mà đi.
*****
Vừa rồi (2021) lần tìm trên mạng mới biết được rằng quán Ngũ phúc xưa giờ chỉ thế này:

AI RÉT TÁI TÊ AI NHỚ RÉT.
Trời u ám xám xịt và rét tái tê cả tháng nay rồi.
Bữa ni mới có chút nắng hửng lên, lại gặp bài "Nhớ rét" của TDN:
Nhớ rét
Ước tiếng ai đó trôi trong màn sương. Ước cơn gió lùa chở giá băng thổi nhói ngực buốt tai. Ước ai kia chạy lại khoác thêm cho ta chiếc áo, choàng thêm chiếc khăn, hoặc bất thần giang tay ôm riết vào lòng. Ước gì được co ro trong chăn, chần chừ mỗi sáng không thò nổi cái chân khỏi giường.
Tôi yêu Hà Nội rét. Nhớ và thèm cái cảm giác được co rùng người lại. Nhớ những chai rượu hâm nóng hít hà cùng chúng bạn. Nhớ những cái đầu chui rụt trong cổ áo. Nhớ những con cúi rơm tuổi thơ cháy hồng ký ức.Nhớ thuở cơ hàn cả nhà trải rơm dưới nền bếp, cuốn chiếu co tròn ôm nhau ngủ.
Cái tuổi thơ rét của tôi. Vâng, tôi đã có một quãng thời tuổi thơ rét. Rét đến thèm nắng, thèm một củ khoai nướng mấy đứa bẻ chuyền tay nhường nhịn xuýt xoa.
Xa Hà Nội, mỗi năm nghe gió về lại thèm rét. Sợ cái nắng cháy rát lưng người và cứ mơ thèm về một thời tuổi thơ rét. Chẳng biết quê mình ngoài ấy mùa rét giờ trẻ con có còn đốt bện cúi rơm. Chẳng biết mặt nước hồ kia có còn rụt bước chân người.
Có ai đó gói cho tôi ít rét làm quà. Có ai đủ sức thổi bay cái rét buốt kia vào trong này. Giá trên những chuyến bay kia, mỗi người chịu khó cõng vào đây chút rét. Một chút thôi, cho tôi được hôn được thở, hôn thở ra khói hít hà xuýt xoa, được giang tay ôm riết nó vào lòng.
Tôi hứa, và chắc chắn là thế, sẽ chẳng bao giờ thả nó ra đâu. Đơn giản, bởi tôi nhớ, tôi yêu và tôi thèm. Chỉ một thoảng gió thôi cũng khiến thèm rét đến tê rùng.
Cảm ơn TDN
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

