Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

NHỚ VỀ TRƯỜNG CẤP 3 QUẾ PHONG NHỮNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP (P3.1)

III.1 
Thầy Lô Văn Thái

Tôi đã gặp ông từ hồi ông còn là sinh viên khoa sinh năm cuối ở Thạch thành Thanh hóa. Năm ấy khoa sinh tập quân sự cuối khóa chung với khoa toán. Ông là giáo viên đi học, làm lớp phó phụ trách đời sống, nghĩa là lo ăn ở cho anh em sinh viên. Khi đó ông đã tỏ ra là người năng động và có trách nhiệm. Chúng tôi cùng trọ một nhà, đúng ra thì ông được gửi trọ cùng với chúng tôi. Rất tiếc, vì chênh lệch tuổi tác, lại học khác khoa nên chúng tôi không quan tâm nhiều tới nhau. Năm sau thì tôi lên Quế phong gặp lại ông mới hay trái đất quả là vừa tròn vừa nhỏ.
Ở ông có tố chất bẩm sinh của người thuộc ngôi quản lý, đặc biệt là quản lý về nhân sự. Và ông có cả những kinh nghiệm, lúc cương lúc nhu, lúc thắt lúc mở biến hóa khó lường. Đang tranh luận căng thẳng với anh em, ông đột nhiên chuyển  hướng: - Thôi nhá, mệt rồi. Ông móc túi ra, đưa cho ai đó mấy đồng: Đi mua rượu uống!  Sai đúng tính sau.
Nhưng như thế có nghĩa là mọi chuyện đã kết thúc. Có thể ông sai, có thể ai đó sai, chuyện đó không quan trọng nữa, cái cơ bản là ai nói lời cuối cùng. Nhờ vậy mà ông nắm được con người, kể cả giáo viên và học sinh. Ông có tiếng nói tác động được đến ty (sở) giáo dục, đến huyện ủy, ủy ban, thành ra trường cũng được sự quan tâm nhất định ủa huyện và tỉnh. Những năm đầu thành lập, cả nước còn chiến tranh, đường sá đi lại khó khăn cách trở thế mà trường ta được ty lên thăm nhiều lần, điều động đủ giáo viên, cho thêm nhiều đồ dùng dạy và học, rồi dần dà cho kinh phí tu sửa, xây dựng cơ sở vật chất.
Ông có sức khỏe tốt, tửu lượng khá, tai mắt tinh tường, đi rừng cũng giỏi, săn bắn cũng tài.
Ông dựng túp lều tranh tre ở bên hồ Nọong cụt, trên nền của nhà bà Lăng để lại. Ông và các con Tâm, Lan, Thường, và Xoan đều ở đấy mà giảng dạy và ăn học.
Các con của ông học hành tấn tới. Có hai chị em Tâm ĐH  y  và Thường  tổng hợp hóa, nhưng về sau cùng làm ngân hàng ở Hà nội.



Thầy Đào Nguyên Kỷ

Anh Kỷ da ngăm đen, cơ bắp rắn chắc, cười to nói lớn. Anh giảng văn say sưa, có lúc như lên đồng, thế mới sướng. Cái sự dạy học nó phải thế. Một nửa là khoa học, một nửa là nghệ thuật. Mà đã nghệ thuật thì phải say mới là mình được.
Chữ anh viết rất đẹp, trong vở cũng như trên bảng. Nhiểu trò học với anh đã tập viết theo kiểu của anh, đặc biệt là khóa I, do anh chủ nhiệm. Chữ T hoa anh viết sao mà điệu, cái lưng chữ T không chịu cong mà lại cứ ưỡn ra, nhưng vẫn đẹp, thế mới tài.
Hôm nhận được tin cô Tuyết đã lên tới Quỳ châu, trường cử người đi đón. Anh Kỷ chỉ định tôi, vì tôi nhỏ tuổi nhất, cũng đúng, đàn em mà. Nhưng tôi không có xe đạp và đi xe đạp cũng chưa thạo, lại chưa thuộc đèo dốc, nguy hiểm lắm – mọi người cân nhắc thế, nên thôi. Cuối cùng thì anh Kỷ phải đi, anh là thư ký công đoàn, đúng chức năng rồi. Hai năm sau thì anh chị nên đôi, đám cưới vui lắm, tổ chức ngay tại cái lớp học mà anh em đã dựng có mấy cây văng bằng bìa gỗ vác từ rừng về hồi nọ.
Anh Kỷ chú ý tìm hiểu văn hóa và ngôn ngữ Thái. Anh đã dịch rất hay lời chào dành cho phái đẹp: "Dến xây bò noọng" – thành "yên lòng không em". Hình như ngày trước người dân vùng cao bị sốt rét rất nhiều, trở thành một mối quan tâm lo lắng thường trực. Gặp nhau là hỏi thăm có bị sốt rét không, tức có lạnh trong ruột ( dến xây) không. Về sau thành một lời chào hỏi, và dịch như anh Kỷ là tuyệt hay, rất trữ tình, lại rất ga lăng.
Rồi anh đi bộ đội. Đợt ấy lấy quân dữ lắm, trường ta chỉ có một dúm giáo viên mà điều năm người, đi ba, trả lại hai vì không đủ người đứng lớp. Năm sau cô Tuyết sinh cháu gái đầu lòng. Năm sau nữa thì cô chuyển về quê anh. Hồi ở bộ đội về anh bị rụng hết tóc, chắc là do sốt rét.
Mười mấy năm sau, tôi được giới thiệu đi khám ở bệnh viện lao. Vừa vào tới phòng khám, bác sĩ Thạch trưởng phòng khám- xưa là giám đốc bệnh viện Quế phong đã kêu lên: Ôi, thầy Luân, thầy cũng phải vào đây à, thầy Kỷ cũng vừa nằm sáu tháng ở đây ra!
Giờ thì anh chị đã nghỉ hưu cả rồi, các cháu đều trưởng thành. Cháu trai đang công tác tại Hà nội và đã làm được nhà ở Gia lâm, chắc là sẽ đón anh chị ra một ngày gần đây.


Thầy Phan Long

Khi lên Quế phong thì anh Phan Long cũng đã đứng tuổi rồi, nên anh tự tin và chững chạc lắm. Anh nói cười rất to, rất vui tính và thẳng tuột. Anh truyền đến chúng tôi cái thuyết “Làm sướng”:
- Ở đời ai cũng thích sướng, được khen thì sướng. Mất chi của cụ mà không khen cho hắn sướng. Đấy là hệ tiên đề, không thể chối cãi. Nhưng để hắn sướng mãi cũng nhàm, nó hết sướng đi, thỉnh thoảng phải làm cho hắn đau, rồi sau lại làm cho hắn sướng, như thể bác sĩ vừa tiêm kháng sinh vừa tiêm thuốc bổ.
Anh vận dụng cái thuyết ấy trong cái sự làm quen với ông trưởng cửa hàng thực phẩm. Anh sang đánh cờ với ông, để cho ông thắng mấy ván đầu, rồi anh thắng lại, rồi ông ấy lại thắng. Đại thể thế, cho tới khi ông hẹn: Hôm sau thầy sang nữa nhé. Rồi thấy anh mua được thứ này thứ khác ngoài tem phiếu về cho bếp tập thể một cách dễ dàng…Anh em tôi phục cụ Phan Long lắm lắm. Mãi sau mới biết cụ chỉ là học trò, thầy Bùi Bính ở Thanh chương, cũng dân toán, mới là cha đẻ của cái lý thuyết ấy. Đã từng một thời thuyết “Bùi Bính” khuynh đảo hội đồng Thanh chương I.
Người Yên thành thân mật gọi nhau bằng cụ, nghĩa là cậu, theo cách nói phổ thông. Chúng tôi theo anh gọi nhau bằng cụ, nghe cũng hay. Cụ có thể là anh, cũng có thể là em, có thể là mày tao, kiểu như Tây xưng hô vậy.
Có hôm anh lên rừng vác về một súc gỗ to rỗng ruột, hình như là gỗ đẻn. Rỗng thì nhẹ nên mới vác được. Ai cũng bảo vác thứ đó về làm gì. Anh lẳng lặng đẽo bằng một mặt, kê ngay ngắn dưới gốc cây, thành cái ghế băng cho mọi người ngồi hóng mát ngoài sân. Việc đơn giản vậy mà không ai nghĩ ra, chỉ có cụ Phan Long mới là người làm được.
Ở anh còn nhiều cái lạ, độc nữa. Nhưng mà thôi, để kể ngoài lề.
Anh ở Quế phong có một năm (thực ra có bảy tháng) thì về xuôi, và rồi đi bộ đội cùng đợt với anh Kỷ và nhiều anh khác.
                                                                                    Còn nữa

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

MẮT HUYỀN

Đôi mắt huyền em nhìn tôi rất êm
Chia tay em về mênh mông chiều lên
Hút nẻo đường lau ngập ngừng ngoái lại
Nhòe bóng ai trông đứng lặng bên thềm.



Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

RCYT: 83. ĐỊNH LUẬT LỚN

Vì lợi ích của con người, cây quế, cây mỡ và cả cây lát hoa nữa đã được trồng thành rừng. Đất Quế chúng tôi hợp với cây quế hơn cả nên chúng lớn nhanh và hầu như không có sâu bệnh. Còn mỡ và lát hoa thì…
Đã vào đầu mùa đông. Rừng mỡ đã 5 năm tuổi trên Pu Hiêu bị một loại sâu gì ăn rụi. Đi trong rừng nghe tiếng phân sâu rơi rào rào như mưa trên lá. Bầy chim lửa ( nôộc phí) đã về bắt sâu cho rừng mà không xuể. Trong khi đó những loại  cây khác mọc xen trong rừng mỡ thì lại chẳng hề gì.
Rừng một loại cây, theo tôi nghĩ, đã phá vỡ mất sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái. Còn bản thân chúng thì bị mòn mỏi đi trong sự chia sẻ ánh sáng nước nôi và dinh dưỡng. Các cây mỡ trồng bên nhau cùng một tầm tán lá vươn lên đón nắng, cùng một tầm rễ tỏa ra hút nước và cùng giành giật nhau một loại dinh dưỡng đặc trưng cho chúng. Cả sâu bệnh nữa, cùng một loại sâu nở ra, cùng thích ăn một loại lá, chúng ăn hết cây này sang cây khác, lây lan thành dịch. Bởi vậy, rừng trồng thì phải chăm bón, trừ sâu, chặt tỉa. Phải bỏ nhiều công sức ra mới mong giành được lợi ích lớn cho người.
Còn rừng tự nhiên thì khác. Cây ưa nắng vươn lên cao, cây cần râm ở dưới thấp. Tán lá nhiều tầng giữ ẩm quanh năm. Chất mục rữa của cây này làm phân cho cây khác, sinh thái tự nó cân bằng. Đến cả chim chóc muông thú cũng phân bổ cân bằng như thế. Con sâu ăn lá cây này nhưng kỵ lá cây kia, còn chim chóc nữa, cho nên sâu bệnh không dễ gì mà lây lan thành dịch. Tổ sâu nở ra đã bị cô lập và bị diệt đi. Nhờ vậy rừng tự nhiên chẳng cần phải chăm bón gì mà vẫn tốt tươi phát triển.
Thử giải một bài toán về hiệu quả kinh tế này xem: Tùy theo mật độ dân cư, nhu cầu sử dụng, khả năng chăm sóc và khai thác chế biến, kèm theo các lợi ích khác nữa về thổ nhưỡng, thủy văn và dài lâu sau này mà chọn một tỷ lệ phân bố tối ưu giữa rừng trồng và rừng tự nhiên?
Tôi đi trong rừng bị sâu ăn rụi mà lan man nghĩ: Giá như chia rừng thành lô, trồng xen kẽ quế, mỡ, lát hoa, và để nguyên cả rừng tự nhiên nữa thì chắc là sâu bệnh sẽ đỡ đi nhiều.
Định luật lớn của tự nhiên là SỰ CÂN BẰNG. Đừng có ý đồ phá vỡ nó. Còn như muốn nặng đầu cân bên này thì cũng phải nghĩ đến cái gì thêm vào ở đầu cân bên kia.
RỪNG CHIỀU YÊN TĨNH  1985

                                                                                                      


Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

NHỚ VỀ TRƯỜNG CẤP III QUẾ PHONG NHỮNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP (P. 2)

II.
Khi tôi được điều lên thì trường ta đã ở địa điểm này rồi, và từ đấy không di chuyển, chỉ có mở rộng dần ra, hay co hẹp dần lại mà thôi. Nhưng mà vị trí đầu tiên của trường thì không phải chỗ này. Theo các trò kể lại, thì vị trí đầu tiên của trường ở sâu hơn, xa đường 48 hơn, bởi ngày ấy Mỹ ném bom miền Bắc, nên phải cảnh giác.
...Đi men hồ bản Bon theo bờ phía bắc và đông bắc, tới một con đập. Ngày xưa thì chưa có đập, chỉ là bờ ruộng thôi, nhưng mà đắp hơi to rộng hơn một chút, quãng giữa có một trộôc nước, dân đi qua phải lội, về sau ai đó ném xuống mấy khúc cây, coi như là cầu. Qua hết cái bờ ruộng đó là đã vào tới bìa rừng. Tiến vào thêm ba bốn chục mét nữa, dưới tán  những cây dẻ, cây ngát có một khoảnh đất được san phẳng, có thêm những dãy giao thông hào. Đấy là chỗ trường ta với một lớp tám lồi.
Đến năm thứ hai (1968-1969) thì dời ra vị trí bây giờ là văn phòng trở vào theo hường đông bắc. Còn chỗ mà bây giờ có cây đa to, lúc bấy giờ là bưu điện. Còn chỗ bây giờ là thư viện trở ra giáp nhà thầy Vũ, thầy Khánh, là cơ quan tư liệu (vật tư nông nghiệp). Sát mé hồ bản Bon, kề bên tư liệu là nhà bà Lăng bán hàng xén nổi tiếng ở Kim sơn thuở đó.
Lối vào trường, cũng là lối đi chung của bưu điện và tư liệu, ở quãng giữa nhà thầy Khánh và nhà thầy cô Tuyên Huyên bây giờ. Hai bên lối mòn là những bụi cây lúp xúp và những vũng trâu đằm, có thêm mấy cây đa to, cây ngát cao và những cây dẻ, cây trẩu, tới một vạt sắn , một khoảnh sân...
Có hai căn nhà ở của giáo viên, mỗi căn ba gian. Cuối sân là căn năm gian chia làm đôi cho hai lớp 9 và 10 quay lưng với nhau. Tách ra một chút là căn nhỏ hai gian vừa dựng cho lớp 8. Sát mé ao là bếp, xịch ra mé ngoài một tí là văn phòng, gọi là thế nhưng không dùng đến. Tẩt cả đều bằng tre nứa lá, dựng tạm, không hề có dấu cưa đục gì. Nhà cửa của hai cơ quan bên cạnh cũng vậy. Bưu điện oai hơn một chút, có cái máy phát điện quay tay, khi nào phát tạch tè thì hai người ngồi hai phía mà quay.
Trường có đủ bàn ghế, bảng đen cho hai lớp trên, lớp 8 dùng tạm bàn bằng phên, còn ghế thì là súc gỗ đẽo bẹp một mặt. Các thầy cô thì có giường đơn, bàn ghế tựa, tất cả đều bằng gỗ vàng tâm. Sách giáo khoa có đủ cả cho trò mượn học. Dụng cụ thí nghiệm thì chưa có gì ngoài mấy bản đồ và một quả địa cầu. Có thêm một quả bóng đá và một quả bóng chuyền da.
Cuối năm 1969 cơ quan tư liệu chuyển lên chỗ bây giờ là viện kiểm sát. Sang năm 1970 thì bưu điện cũng dời đi, lên vị trí hiện nay. Có lẽ mọi người đọc được là thằng Mỹ không thừa bom để ném xuống vùng này nên đã lần lần dời ra nơi thoáng đãng. Trường ta nhân thể đó mở rộng ra đến tầm như nay là khoảng sân trường, từ gốc đa to, đến thư viện hắt trở vào trong.
Cứ hai ba trò chung nhau dựng một cái lán, cái nọ kề cái kia, thành dãy, gọi là ký túc. Có một khóm ký túc ở bên bờ ao thẳng hướng cổng trường bây giờ đi vào, một khóm ở phía sau trường lối men bờ hồ về hướng bản Bon, một khóm ở khoảng vườn thầy Vũ và cô Thiều ngày nay, thêm một khóm ở mé đông bắc của hồ bản Dốn.
Ngoài các lớp học, nhà lán ký túc và một cái sân hẹp là nại trồng sắn, nhìn phía nào cũng thấy sắn. Đất mới vỡ ra tơi xốp, sắn lên xanh tốt, nhiều củ, và thơm ngon lắm, đặc biệt là lành không say.
Năm 70-71, các thầy vào rừng thấy người ta cưa gỗ vất lại những thanh bìa thẳng băng, lấy làm tiếc, vác về. Lao động, cho trò chặt thêm mấy cây cột, dùng mấy thanh bìa làm văng, cưa đục một chút, thế là dựng thêm được một lớp học ngay ngắn rộng rãi thoáng đãng, ở chỗ trước cây đa cao bây giờ, nhìn ra một vạt sắn chưa thu hoạch hết, rồi tới cái sân bóng chuyền…
Những năm 1973, 1974 nhà nước cho kinh phí làm nhà khung gỗ. Kinh phí chỉ đủ để thuê thợ cưa, thợ mộc. Việc chuyển gỗ đã xẻ từ rừng về, việc san nền, lợp mái, đan vách toocxi đều do thầy trò tự làm. Câu thơ của thầy Vũ Đài viết “”Nhớ ngày vác gỗ Na Cày mòn vai’ là chỉ về những năm ấy…Về sau cứ theo đà đó mà xây dựng thêm, rồi lợp ngói cả cho lớp học, văn phòng, nhà ở giáo viên, thư viện. thầy trò khi đó làm được tất, không nề hà một việc gì.
Khuôn viên của trường cũng mở dần ra, trước để trồng sắn, hưởng ứng chủ trương “tự túc lương thực tại chỗ” hồi sau 1975. Đợt đầu ra tới giáp bờ rào của viện kiểm sát, ngược lên phía chân pu Hiêu, ôm trọn vùng lớp học bây giờ. Cả khuôn viên vườn nhà thầy Thanh và nhà thầy Đài, thầy Tuyên cũ cũng ở trong vòng đó. Đợt sau mở lên sát đường bê tông ra nghĩa trang thị trấn bây giờ, tới giáp vườn anh Trung công an, kéo xuôi tận eo đất giáp nghĩa trang, ngoặt ra tới bờ hồ bản Bon (noong Cụt). Diện tích lúc mở tối đa lên gần 4 hec ta. Mấy mùa sau không trồng sắn nữa thì để đất trống, các thầy mới làm nhà và vườn, nhưng vẫn còn dư mênh mông.
Cổng trường những năm 1973 trở đi thì chạy thẳng theo hướng bây giờ là hàng cây giữa sân trường, nối ra đường 48 ở quãng cổng viện kiểm sát. Đó là lối đi ngắn nhất để lên thị trấn, cũng là hướng có lượng người đi lại lớn nhất. Về sau chuyển về vị trí như bây giờ đang có, đi giữa hai phía ao,  thoáng, rộng, khang trang.

Trường ta có thế đất đẹp, vị trí yên ngựa, nằm ở điểm thấp nhất vững chãi nhất trên đường phân thủy giữa pu Hiêu và pu Mai. Hướng về phương bắc, nhìn lên pu Mai, thì bên phải -mạch nước chảy về đông, qua bản Bon, bản Tạng, Na cày... mà xuôi nậm Việc. Bên trái - mạch nước chảy về hồ bản Dốn, qua khe bà Lăng xuôi Na phày... về hợp dòng nậm Giai. Cả nậm Giai, nậm Việc, đều chảy về hợp lưu ở ngã ba sông Quàng Châu Thắng. Vậy là trong thung lũng lớn Kim sơn trường ta ở vị trí cao nhất, lại là chỗ vững vàng nhất. 
      Đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi huyện ủy còn sơ tán ở trong Na pu, người ta đã định lấy khu đất này, đã dựng lán, chuyển gỗ và đưa thợ mộc đến sàm đóng khung nhà, đã đưa máy ủi san nền, (là một phần nền của dãy lớp học nhìn ra thư viện bây giờ) để dời huyện ủy ra. Trường ta phải đấu tranh mãi mới giữ được vị trí này. Cũng biết bao công sức của thầy và trò đã bỏ ra để trụ lại, để dựng xây dần dần từng tí từng chút một, cho tới ngày nay…

Sau gần hai mươi năm đi xa tôi mới có dịp trở lại, thấy trường ta đã đổi thay nhiều, khang trang lên nhiều. Mừng lắm. Nữa rồi, lại chạnh nhớ ngày xưa, mà ôn lại tí ti trong bộn bề kỷ niệm.
                                                                   Còn nữa

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

QUÁN TÍNH CỦA BẠO LỰC

Mọi vật có khối lượng là có quán tính, thậm chí trong vật lý có người xem quán tính và khối lượng là một, bất kể vật ấy đứng yên hay chuyển động.
Con người ta, chắc chắn là có khối lượng rồi, nên cũng có quán tính. Ấy là quán tính vật lý. Ngoài quán tính vật lý con người còn có thói quen, còn có sở thích, còn tham vọng, còn  xu hướng… Và những thứ này cũng mang quán tính.
Xét riêng từng cá thể là vậy, một đám đông cũng có cái quán tính của nó. Một dân tộc cũng thế. Cái quán tính dễ thấy nhất ở nước ta trong gần một thế kỷ qua và cả chục năm nay ở thế kỷ mới này là  quán tính của bạo lực. Quán tính này phải có thời điểm xuất phát, phải từ một sự phát động, như thể trái đất quay từ cú hích ban đầu. Lần ngược mãi lên thì thấy động lực của cái sự vận động bạo lực này chính là mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn đối kháng. Hóa ra triết học kinh điển đã nói như vậy.
Cái mâu thuẫn đẩy lên đến mức đối kháng thì giải quyết mâu thuẫn chỉ có thể là cuộc đấu tranh một mất một còn bằng cách dùng thứ bạo lực này để thắng thứ bạo lực kia. Khi một phía đã mất rồi, nhưng phía kia vẫn chưa hết lo sợ mầm mống của nó trỗi dậy thì lại phải tiếp tục dùng chuyên chính để trấn áp. Và thế là bạo lực vẫn được duy trì. Đến khi lợi ích đã nắm trong tay, thì nẩy sinh ra nỗi lo sợ bị kẻ khác giành mất, chí ít là lo không nắm trong tay được lâu dài mãi mãi, ấy là chưa kể còn lo sao cho lợi ích ngày một nhiều thêm. Với nỗi lo này, kẻ có lợi ích lại càng phải gia tăng thêm tiềm năng, củng cố thêm lực lượng thực thi bạo lực.
Vậy là bạo lực không chỉ vận hành như một quán tính mà còn được tăng cường, được nuôi dưỡng, được thúc đẩy. Bạo lực không chỉ nằm trọn trong một lực lượng mà lan tỏa, loang ra trong cộng đồng, trước hết ở những kẻ đang cầm đàng cán, đang có vũ khí và trang bị, những kẻ nắm công cụ, rồi sang những kẻ liều lĩnh hung hăng côn đồ, trộm cướp hiếp giết.
Khi người ta không biết căn nguyên từ đâu, hoặc cố tình lờ đi thì dễ nhất là đổ lỗi cho giáo dục, nhất là khi thấy giáo dục cũng có cảnh bạo lực học đường. Đành rằng giáo dục có lỗi, nhưng là lỗi của tay chân thôi, là lỗi của công cụ. Người phải chịu trách nhiệm chính ở đây phải kẻ cầm công cụ. Xa hơn nữa là lỗi của triết học, cái thứ triết học tàn bạo sáng tạo ra mâu thuẫn đối kháng một mất một còn. Và cuối cùng là cái quán tính của đám đông đã một thời quá dài sử dụng bạo lực như một lẽ sống.  Chúng ta đành chấp nhận như vậy, vì đây là một thực tế lịch sử. Rồi sẽ phải khắc phục dần những điều đó, không hy vọng một sớm một chiều.

 Ngẫm lại, bạo lực chưa bao giờ là giải pháp tối ưu cho nhân loại, kể cả khi phải dùng bạo lực chống bạo lực. Còn dùng bạo lực để đối chọi với ôn hòa thì là hạ sách, dùng bạo lực để chà đạp công lý, để đàn áp người yêu nước thì là sai. Không những sai, sai to rồi, mà còn là xấu xa và hèn hạ.
 “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, thì công cụ bạo lực nếu có, phải  là “của dân do dân vì dân” và vì tổ quốc, vì độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của giang sơn đất nước. Đừng để bạo lực tồn tại như một thói quen, một quán tính và cũng đừng lái nó trở chiều quay lại nhắm vào dân.
20-10-2011

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

CHUỘT CŨNG CHÊ

1. Xóm nhỏ chúng tôi có bốn nhà ở kề bên nhau. Hàng năm vào trung thu thường tổ chức chung cho các cháu trông trăng phá cỗ. Có lần chưa kịp quét dọn, vẫn còn vương vãi những miếng bánh quy nhỏ, vài mẩu bánh nướng, thì trời lắc rắc mưa. Vậy mà lạ quá, sáng ra quét sân vẫn thấy những mẩu bánh còn nguyên. Hóa ra chuột không ăn những thứ bánh này, tôi chợt nghĩ thế, vì quanh xóm tôi nhiều chuột lắm.
2. Có lần tôi hỏi cô bạn bán bánh kẹo và tạp hóa trong cái nhà cấp bốn tuềnh toàng: - Cửa hàng mình như này không sợ chuột ăn hết bánh kẹo à? – Không đâu bác, cô ấy nói, chúng chỉ ăn lương khô thôi, mà cũng ít khi lắm, còn thì bánh quy, sôcô phai, kể cả bánh trứng chúng cũng không thèm.
3. Hồi nhà tôi còn mở quán nước mía, và bán kèm mấy thứ nước giải khát đóng chai, cái chỗ đổ bã mía đùn lên một tổ kiến lửa. Loại kiến này đốt đau, nổi mẩn rất lâu khỏi. Chúng rất khó diệt, kể cả đổ dầu hỏa chúng cũng không sợ. Vậy mà có hôm, còn một ít cô ca cô la khách uống dở bỏ lại, tôi đem đổ vào tổ kiến. Hôm sau nhìn lại, kiến đi mất sạch.
4. Một hôm xem tivi, có ông thầy thuốc bày cách dùng kiến để thử chè thập cẩm có phải nấu bằng đường hóa học không. Nếu kiến không đụng đến thì y như rằng.

Ngẫm lại những loài vật như kiến như chuột mà sao khôn thế. Chẳng nhẽ loài người đến độ văn minh khoa học công nghệ như thế này rồi mà vẫn còn thua? Quả thật hết biết thế nào.
5-11-2011

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

NHỚ LẠI TRƯỜNG CẤP 3 QUẾ PHONG NHỮNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP (p1)

I.
Niên khóa 1967 - 1968 trường cấp II Mường nọc có thêm một lớp 8, gọi là lớp 8 lồi, tiền thân trường của cấp III Quế phong. Các giáo viên chính thức đầu tiên là thầy Hoàng Xuân Luyến quê Diễn châu - dạy toán, thầy Đào Nguyên Kỷ quê Nghi lộc - dạy văn và thầy Nguyễn Hạng quê Diễn châu -dạy hóa. Các thầy phải dạy thêm các môn khác như lý, sinh, sử, địa. Học sinh thì hội đủ mọi miền, từ vùng cao Thông thụ, Tri lễ, ra Mường nọc, Mường hin, xuống vùng thượng bù Bài, và còn nhiều trò ở miền xuôi theo cha anh  lên Quế phong.
Năm sau (1968-1969) thì tách hẳn ra, thành trường cấp III, có hai lớp 8 - 9, thầy Luyến làm hiệu trưởng. Trường có thêm thầy Vi Trọng Thái quê Nghĩa đàn - dạy chính trị, thầy Lô Văn Thái quê Châu bính - dạy sinh và thầy Hà Thanh Tình quê Nam đàn – dạy sử. Trường đã dời về vị trí ngày nay, dù khi đó chỉ là một khoảnh rất bé dưới tán cây rừng. ( Vào chung cổng với trường khi đó còn có cơ quan vật tư nông nghiệp, và bưu điện huyện). Học trò đã đông thêm, làm lán tranh tre ở túm tụm chung quanh, gọi là ký túc.
* Sang năm thứ ba, niên khóa 1969 – 1970, trường có đủ ba lớp 8-9-10. Thầy Luyến được chuyển về xuôi, thầy Lô văn Thái làm quyền hiệu trưởng rồi hiệu trưởng. Trường có thêm thầy Lê Huy Hạnh quê Diễn châu- dạy lý, thầy Võ Quang Luân quê Thừa thiên Huế - dạy toán và đặc biệt có cô Nguyễn Thị Tuyết người Hà nội – dạy địa, giữa kỳ I bổ sung thêm thầy Phan Long quê Yên thành – dạy toán. Vậy là đến năm học này trường có đủ ba khối lớp và cơ bản đủ giáo viên cho các bộ môn. Tôi nhớ khi đó lớp 10 có hơn năm mươi trò, lớp 9 chưa đầy bốn chục, còn lớp 8 chỉ có 27 học sinh (hình như là do tư tưởng hẹp hòi trong việc tiếp nhận).
Kết thúc năm học này là có học sinh ra trường. Ngày đó Quế phong phải về Quỳ châu để thi tốt nghiệp. ( Xin bổ sung con số tốt nghiệp căn cứ theo sổ đăng bộ).  Cũng năm đó nhà nước trở lại chủ trương thi vào đại học, và vẫn duy trì việc thẩm tra lý lịch học sinh một cách rườm rà căng thẳng; Vậy mà trường ta có ngay mấy trò vào đại học như Lữ Minh An – Thông thụ, Lộc Chí Xuyết – Mường nọc (sau này Xuyết bỏ giữa chừng, thật tiếc), Trần Ngọc Tờng – Quỳnh lưu, hoặc những trò sau khi đi bộ đội về lại thi được vào đại học như Nguyễn song Toàn – Thị trấn Kim sơn, Cung văn Chương – Yên thành…

* Năm học 1970- 1971 thầy Nguyễn Hạng, thầy Phan Long về xuôi, thầy Vi Trọng Thái trở lại Nghĩa đàn. Bổ sung thầy Nguyễn Văn Ty dạy toán và thầy Nguyễn Văn Danh dạy văn, cùng quê Quảng bình, thầy Lê Văn Hội dạy hóa - quê Nghi lộc và thầy Trần Ngọc Thanh dạy sử  - quê Diễn châu.

Kết thúc khóa II có trò Lang Văn Tiến – Mường hin, và trò Phạm Luận –Thanh chương được đi học nước ngoài. Nhiều trò khác như Cầm bá Quát,  Hà Văn Châu ở  thượng bù Bài vào đại học và cao đẳng. Các trò La Ngọc Châu –Mường nọc, Lô Văn Thanh – Thông thụ là vô địch giải vật tự do và chạy 10km của tỉnh…

* Đầu năm học 1971 -1972 thầy Danh và thầy Ty được điều về Quảng bình, lên thay là thầy Lương Văn An dạy toán –quê Châu hạnh, thêm thầy Ngô Hữu Chánh – quê Thừa thiên Huế dạy thể dục , thầy Lương Văn Tâm quê Châu hạnh dạy sinh, thầy Lô Văn Thuyên dạy KTNN.

Khóa III, đến khi lên tới lớp 10 chỉ còn lại 13 trò do có nhiều trò đi bộ đội từ năm trước. (Xin được bổ sung danh sách học sinh đi bộ đội những năm đó đã được thống kê vào dịp 20 năm thành lập trường,  có cả những trò đã hy sinh). Năm này thầy giáo cũng phải điều động: thầy Kỷ,  thầy Hội và các thầy đã về xuôi như thầy Luyến, thầy Hạng, thầy Long đều đã lên đường nhập ngũ. Thầy Hạnh, thầy Thanh và thầy Luân cũng có giấy gọi nhưng vì thiếu giáo viên để hoàn thành nốt chương trình cuối năm nên gác lại.

Các trò như Ngô Thái Lễ - di dân Mường nọc, Lô Minh Trung (Pặp) – Mường hin, Lê Huy Thạch – em thầy Hạnh, Vi Thị Hằng – Châu tiến được vào đại học và nhiều trò khác đi cao đẳng . Đặc biệt có trò sau khi đi bộ đội đã tiếp tục học lên để có bằng tiến sĩ như Lô Văn Xanh –Quang phong, hay trở thành lãnh đạo như Hà Văn Nam – Châu kim. 

* Năm học 1972 -1973, thay thế cho các thầy đã đi bộ đội là thầy Hồ Sĩ Đặng dạy hóa – quê Quỳnh lưu, thầy Lô Văn Múi dạy lý - quê Quang phong, thầy Trần Thức Liên - ở Tân lạc, thầy Nguyễn Văn Thành ở Vinh dạy văn, thầy Trương Đình Vũ dạy chính trị.

Học trò khóa IV ra trường không nhiều nhưng cũng gấp đôi khóa III. Nhiều trò đậu đại học như Trần Văn Xin – Anh sơn, Trần Đình Dũng – Nghi lộc, Đậu Đình Tùng –  Quỳ châu,  và Lô Thị Tâm (con gái đầu của thầy Thái). Cả bốn trò này về sau đều ở Hà nội, và trò Lô Thanh Chương nữa cũng đậu đại học… Có nhiều trò đi bộ đội về sau cũng trưởng thành được cả như  Lộc thị Xoan, Quang thị Hạnh, Mạc thị Hiền, Nguyễn thị Lưu, Vi thi Loan… Khóa này có nhiều nữ sinh đi bộ đội nhất.

* Niên khóa 1973-1974, thầy Lương Văn An được về Quỳ châu, thầy Lang Viết Sinh, cũng ở Quỳ châu lên thay. Cô Tuyết về Nghi lộc – quê thầy Kỷ, thầy Vũ Đài –quê Nam định, lên thay. Cũng kỳ này gia đình thầy Tình được chuyển về quê- Nam đàn. Năm này trường cũng có nhiểu đổi thay về cơ sở vật chất và thầy trò trong những năm này cũng phải lao động nhiều và nặng nhất.

Khóa V cũng có nhiều trò học khá, được vào đại học như Lê Văn Thành, Trần Đăng Khoa, Lô Văn Ngọ, Sầm Thị Hoan, Nguyễn Thị Tuyền, Phạm Thị Xuân… Cũng có nhiều trò đi bộ đội…

Những người mà tôi nhớ nữa, trong thời gian này là chị Lê Thị Can- về trường năm 68, chị nuôi đầu tiên của trường, rồi thêm chị  nuôi Thái Thị Bảy, Nguyễn Thị Mai (71), và các thầy giáo được cử làm văn phòng thuở ấy: đầu tiên là thầy Hà Văn Thanh (69), rồi thầy Vi Văn Từ (71), đều ở Châu kim, thầy Lữ Đình Phạm quê ở Quỳ hợp  (73); anh Phạm Thanh Năm- kế toán (72) chị Phạm Thị Sinh- y tá (72)…

Bồi hồi nhớ lại, thì cũng nao nao buồn khi biết nhiều người thuở ấy nay đã không còn, như thầy Trần Ngọc Thanh, thầy Nguyễn Văn Thành, thầy Lương Văn An, chị Thái Thị Bảy, thầy Vi Kim Tuyền; và các trò đã hy sinh như Vi văn Nam - Thông thụ -KI, Vi Văn Toàn –Cắm muộn -K3, Đinh văn Quang – Thanh chương- K4, thêm trò Lê Văn Như khóa sau sau nữa… và cả những trò bị bệnh hiểm nghèo như Sầm Mạnh Hùng, Lộc chí Xuyết, Nguyễn Song Toàn, Sầm Văn Tuyên (Tuyên toại) KI, Thái Thị Mãn K3, Đậu Đình Tùng K4, Lê Văn Thành, Phạm Ngọc Bình, Sầm Thị Hoan K5… Xin cùng nhớ về tất cả và cầu cho các bạn, các em nhẹ nhàng siêu thoát.
Tôi tạm dừng những điều ghi chép về giáo viên cán bộ công nhân viên những năm đầu thành lập trường cùng năm khóa học sinh đầu tiên ở đây. Chỉ là đôi nét sơ lược, hy vọng có dịp trở lại kỹ lưỡng hơn. Rất mong bạn bè và các trò góp thêm thông tin và cũng rất mong trao đổi tiếp những chuyên mục khác.
                                                                     Còn nữa