Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Tin vui mới đây!

     Đọc được tin vui, mừng quá, xin phép Mai Thanh Hải cho rinh về đây. Cảm ơn Mai Thanh Hải và cảm ơn thuyền trưởng Mai Phụng Lưu - người đã đưa báu vật Hoàng sa về Hà nội.

BÁU VẬT HOÀNG SA GIỮA LÒNG HÀ NỘI

Posted by Mai Thanh Hải on Tháng Một 16, 2012
Cát vàng, ốc vân, san hô các màu… – Đó là những báu vật được “Sói biển”, Thuyền trưởng Mai Phụng Lưu lấy từ Hoàng Sa, mang về Lý Sơn và lại chuyển vào đất liền Quảng Ngãi, lên xe đường dài Chính Nghĩa ra tới Hà Nội.
Hiện tại, số cát này đã được Mai Thanh Hải đóng trong hộp nhựa để chuyển tặng các bác, cô chú, anh chị đã chung tay ủng hộ, đóng góp cho “Sói biển” Mai Phụng Lưu mua sắm ICOM, tay lưới… phục vụ việc đánh bắt thủy hải sản trên Biển Đông (đặc biệt là tại khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
Ngày hôm qua, Mai Thanh Hải đã chuyển một số hộp cát Hoàng Sa cho một số bác. Vui nhất là bác Gốc Sậy, vào tận nhà Mai Thanh Hải để ngắm các sản vật Hoàng Sa đang được trưng bày trong nhà.
Đề nghị các bác có nhu cầu lấy cát Hoàng Sa, liên hệ với Mai Thanh Hải để nhận “báu vật”.
Điện thoại: 0917.500.550-0989066681
Email: thanhhai@vasep.com.vn
Nick yahoo: thanhhaivir

16 phản hồi to “BÁU VẬT HOÀNG SA GIỮA LÒNG HÀ NỘI”


  1. Mai đã nói

    Dep that !, Gan 40 nam roi tui moi thay lai may con oc na`y. Thank Mai Phung Luu va` MTH.

  2. Nguyen Tay Ninh đã nói

    Ôi anh ạ, quý hóa quá. Nếu có thể bác gửi cho em xin 1 hộp nhỏ với ạ. Chúc anh vui khi sang nhà mới này. Mấy ngày nay tưởng bác bị làm sao, ai ngờ bị kẻ gian ăn cắp mất trang blog yêu quý.

RCYT: 110: BĂNG GIÁ

    Mùa đông năm 1973 vùng cao chúng tôi đã có những ngày băng gía. Đó là sự kiên hiếm hoi kỳ lạ làm chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và dẫu rất rét chúng tôi vẫn thấy thật là thú vị.
      Ban mai trời trong veo. Mặt trời lên sáng lóa. Không khí ấm dần và khô hanh. Gió chỉ heo heo. Chim chóc từ quãng chín giờ đổ lên vẫn ríu rít trong rừng. Con người cảm thấy nhẹ nhõm và sảng khoái. Đặc biệt các cô gái thì rất thích. Má các cô cứ hồng rực lên và đôi mắt cứ long lanh, long lanh.
     Về chiều nhiệt độ xuống rất nhanh. Nền trời vẫn trong xanh và cao vời vợi. Tôi thường nói đùa với trò: vậy là mặt đất thiếu chăn rồi. 17 giờ: 12 độ; 21 giờ: 5 độ; 24 giờ: 0 độ. Cái lạnh khô, tê tê. Rất khác với cái lạnh ẩm rít buốt. Trên rừng con mang không chiu được lạnh toác khản cả cổ trong bụi rậm. Thôi mày ơi, đừng toác ầm lên thế, sưng phổi đấy.
     Trong mọi nhà lửa cháy rừng rực. Các súc củi lớn được chụm vào nhau. Cái lạnh dừng ở ngoài cửa. Trời vẫn trong lạ kỳ. Ban đêm mà vẫn thấy rõ nền trời xanh biếc và muôn vàn các vì sao lấp lánh như thể đang run lên vì lạnh.
     Sáng ngày trở dậy, bếp lửa đã tàn. Nhiệt kế trong nhà chỉ âm 2 độ. Ngoài trời tất cả đều trắng xóa. Lá cây, đám cỏ, mái nhà, đến cả những chiếc cọc rào đều được phủ một lớp bột nước đông lại như muối. Lá cây trở nên cứng và giòn. Nước trong các thùng chậu đã đông cứng. Còn hơi nước từ trong giếng thì bốc lên cuồn cuộn và kết thành một lớp mù dày đặc.
      Chúng tôi say sưa thích thú với cảnh băng giá hiếm có này. Chúng tôi cũng ngạc nhiên quá đỗi đến mức quên mặc thêm áo ấm, mà cứ thế chạy khắp mọi nơi để xem xét từng nhành cây, khóm lá. Thương cho những chiếc lá gãy giòn như cái cái bánh đa và chúng tôi luôn xuýt xoa: băng giá!
      Học trò của chúng tôi cũng vậy. Nhiều trò đến trường rất sớm, mặc cho giá rét. Trò Phạm ngọc Bình còn cầm theo một tảng nước đá lạnh buốt trên tay, đem đến khoe với tôi. Và các trò xúc động nói: tuyết rơi! tuyết rơi!
     Chưa phải là tuyết rơi đâu các em ạ. Đây là sương muối và băng giá. Nghĩa là trời đã trở lạnh đến mức nước đông lại. Các giọt sương đọng ướt khắp nơi đã đông lại thành sương muối. Và một lượng nước nho nhỏ nào đó đã kịp đông lại thành đá, thành băng. Còn khi hơi nước từ trên cao đông lại thành từng bông trắng xốp và nhẹ nhàng rơi xuống thì đấy là tuyết. Để có tuyết rơi thì thường là phải lạnh hơn thế nữa và đặc biệt là phải có mây mang theo nhiều hơi nước tới. Các trò của tôi đã hiểu ra. Các em chạy tản đi khắp nơi để xem xét và luôn kêu lên: Băng giá! Ôi băng giá!
      Chúng tôi phải vào lớp muộn bởi phải chờ cho chân tay đỡ tê cóng.  May thay mặt trời lên nhanh và trời rất trong nên không khí ấn lên dần. Băng giá tan bốc lên một làn hơi nước mỏng, có cảm giác như một làn khói nhẹ màu lam. 
     Những con chim trốn rét mãi đến giờ mới cất tiếng gọi nhau dè dặt. Hình như chúng còn quá hãi hùng với cái rét đêm qua. Chúng cứ xuýt xoa: rét quá! rét quá! Những con chào mào phải trốn xuống dưới lòng các giao thông hào nơi có các lùm cây rậm phủ lên. Giờ này chúng vẫn còn ri rích đâu dưới ấy, chưa dám bay ra.
     Sau mấy ngày như thế, bầu trời trở xám nặng dần. Gió mùa về mang theo mây xốp. Mặt đất đã lại có chăn. Cái lạnh về đêm giảm dần. Nước không đông nữa nhưng chúng tôi vẫn luôn nhắc tới những ngày băng giá như một điều kỳ lạ và như một trải ngiệm lý thú. Đang khi đó chúng tôi không thể ngờ rằng chỉ ít lâu sau các đám cỏ chết khô hết cả. Các các cây bụi nhỏ thân xốp cũng xạm đen dần lại rồi chết khô. Rồi cà phê cũng chết hàng loạt. Những bãi cỏ và đồi cây bụi bao phủ một màu tối sẩm. Rải rác các em nhỏ đã đốt cháy những đám cỏ lớn.
     Mùa xuân năm sau cỏ lại nẩy mầm xanh mượt. Các đồi cây cũng đã có màu xanh lộc nõn. Ở nhưng đám bị đốt cháy cây cỏ cũng đã mọc trỏ lại, và có vẻ như còn mọc khỏe hơn nữa. Cây cỏ quên ngay một mùa băng giá, còn chúng tôi thì nhớ mãi. Đấy là kỳ băng giá hiếm hoi trong suốt mấy mươi năm.
                                                             1984

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

ĐỂ BƯỚC TIẾP NGÀY MAI

Phải nghĩ cái gì đó
Cho qua từng phút giây  
Phải làm cái gì đó
Cho qua đi một ngày

Tháng năm dồn tụ lại
Biết là bao gánh đầy
Phải đặt xuống cho nhẹ
Để bước tiếp ngày mai

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

NHỚ VỀ QUÊ NGOẠI: 20, 21

  20.

Buổi chiều tôi lại tha thẩn ngoài bãi biển, hay đầu ghềnh đá, hoặc bắt dế, hoặc lên đồi hái sim hái móc. Có đêm theo mẹ và mấy người nữa trong cơ quan đi bắt còng. Lấy nứa bó lại làm đuốc, soi dọc bờ bể, đêm còng ra ăn nhiều, đuổi theo mà bắt trước khi nó kịp chạy về hốc hoặc xuống nước. Đuổi bắt còng rất thú vị, nghĩ là được ăn còng càng hứng thú thêm, đến khi ăn thì mới nhận ra không có gì hấp dẫn cả.
…Cũng có những khi theo người lớn đi tắm, nhất là khi có đoàn của ty của bộ về thăm. Mấy ông cán bộ ấy ham tắm biển lắm. Có khi gặp bà con kéo lưới cũng chung tay kéo cùng. Tôi nhớ có lần đi tắm về được một lúc thì bà con gánh cá vào biếu, nói rằng: Nhờ có cán bộ, mẻ lưới này trúng to, xin biếu cán bộ lấy may.
… Có lần một tàu đánh cá của Trung quốc hỏng bánh lái dạt vào bãi biển. Họ nói gì không ai hiểu. Ba viết mấy chữ nho lên bãi cát, họ cũng viết, bằng cách đó mà trao đổi với nhau. Thế là biết họ có người ốm. Có người say sóng. Ba tổ chức cứu chữa, rồi liên hệ địa phương sửa tàu cho họ.
…Đồng Mí cách biệt với xung quanh, trước mặt là biển, ôm trọn phía sau và hai bên là núi như một vòng cung, mà không hiểu sao vẫn có nhiều cá rô trong ruộng, trong khe re rách nước. Anh Đỉnh đan lờ, đặt vào trộ nước chảy, cá rô lóc ngược, có hôm vào trặt cả lờ.
…Ngoài Đồng Mí là Đồng Thanh, Đồng Minh, cũng địa phận Quỳnh Lập. Ra nữa theo phía bắc là Tĩnh Gia Thanh hóa. Đồng Thanh, Đồng Minh có nhiều cư dân làm nghề cá, không như Đồng Mí bỏ hoang không có người ở. Dân hai làng ấy đánh được cá phải gánh lên tận Hoàng Mai mới có nơi tiêu thụ. Từ ngày có trại phung, có công trường xây dựng, hai làng có thêm thị trường ngay kề nên phấn khởi. Tôi được ba mẹ cho đi cùng đến thăm hai làng đó. Tới đâu cũng được bà con tiếp đón ân cần và cho thưởng thức nhiều thứ như cua đá, tôm hùm, mực ống, cho cả rau câu đã phơi khô để về nấu thạch.
… Có những ngày mẹ lặng lẽ chuẩn bị cho tôi đi học theo tiêu chuẩn học sinh miền Nam. Như thế là tôi phải xa ba mẹ. Mẹ thêu tên tôi lên áo quần, khăn mặt, thêu lên cả cái túi đựng quần áo sách vở. Cũng không có chi nhiều, vừa một cái túi có quai đeo qua vai. Mẹ may cái túi ấy và cả bộ áo mới của tôi bằng vải của cái vỏ chăn hoa mà mẹ cắt ra. Tôi thấy mẹ khóc nhiều lần, khóc giấu ba tôi, giấu cả tôi, không thành tiếng. Thế rồi thôi, tôi không đi ra trường học sinh niềm Nam nữa. Tôi ở nhà với ba mẹ, chấp nhận đi học xa bốn cây số qua đèo.

21.
Học lên lớp 3 thì trại phung dời khu CNV ra phía ngoài đèo, nghĩa là ra khỏi vành trăng khuyết của thung lũng Đồng Mí. Ra đây thì tôi đi học gần hơn nhưng ba mẹ đi làm lại xa hơn. Bệnh nhân hồi này vào nhiều. Thực tình tôi không mấy khi thấy họ, chỉ nghe ba mẹ nói và nhất là nhìn vào những quyển sổ bìa cứng to đùng ghi danh sách người bệnh của ba.
… Có hai chuyên gia người Bun sang giảng về bệnh phung. Lớp học có vài chục người. Tôi thấy Tây lấy làm lạ, cứ rình ở bên ngoài để nghe. Chỉ nhớ hai từ  “úy, nông”, nhưng lại biết được ba vừa là giám đốc, vừa là học viên, vừa là phiên dịch. Hôm kết thúc khóa học, có buổi liên hoan, tôi cũng được ngồi bên ba mẹ. Không ăn gì, tôi chỉ đòi khoai tây, đòi được rồi mới biết dại. Khoai tây nhạt thếch, không ngon bằng khoai lang.
… Trong không gian vắng lặng của vùng đồi, cách xa khu dân cư, đêm đêm ở trong nhà tôi có thể nghe tiếng guốc, tiếng dép mà nhận ra ai đang đi ngoài đường hay ai đang đi về phía nhà mình. Tôi cũng dễ dàng nhận ra mùi thơm khoai lang cháy khi đi giữa trảng cỏ, nhất là những buổi sáng mai của mùa nắng. Ba tôi nói đấy là mùi cỏ mật, khi bị héo cỏ mật dậy mùi, nhất là khi đọng chút hơi ẩm. Còn người khác thì nói là ma luộc khoai, hay ma nấu ăn. Khoai luộc nồi đất, đến khi chín rồi, cạn nước, thì củ khoai bị sém, chất mật trong khoai bị cháy bốc hơi lên, thơm ngọt. Mùi cỏ mật cũng vậy, nhưng không ai nhìn thấy giữa chốn đồng bãi vắng lặng, chỉ ngửi thấy thôi, thành ra bí ẩn mà gọi là ma. Bây giờ con cháu tôi không thể phân biệt được các loại cỏ, còn ngày đó thì trẻ con biết rõ từng loại cây, loại cỏ bên đường, trên đồi trên núi. Cỏ mật bò sát đất, thân mập, đốt ngắn. Phải nắng nóng dài ngày lắm cỏ mật mới héo, gặp khi có sương ẩm thì mùi thơm mới dậy lên và lắng đọng trong không khí.
…Con đường mòn qua đèo mà hồi học lớp 2 tôi vẫn đi về mỗi buổi nay được mở ra to rộng hơn cho xe ô tô con có thể chạy được. Rồi người ta cho bệnh viện cả một cái máy phát điện to kinh khủng. Cho tới khi đó tôi chưa từng thấy cái máy gì to như vậy. Phải dùng đến bốn chục người gánh cái máy ấy từ ngoài đường I vào. Tôi đã bỏ hai buổi học để đi theo đoàn người gánh máy. Họ đã dùng những cây mét dài để làm đòn khiêng. Ì ạch nhích dần từng chặng. Cuối cùng thì cũng phải dừng lại ở chân đèo phía ngoài dốc, và xây trạm điện ở đó. Chỉ tiếc là đến khi phát được điện thì tôi không còn được ở Quỳnh Lập nữa.

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

NHỚ VỀ QUÊ NGOẠI: 18, 19

18.
Nghỉ hè. Tôi lang thang suốt ngày trên bãi biển nhặt vỏ ốc, mai mực, đuổi theo những con còng, những búi cỏ lông chông, nóng quá thì ào xuống biển, tắm mát, lại lên bờ lang thang, thui thủi. Có hôm tôi ra phía ghềnh đá ngồi xem người ta câu cua đá, câu cá bống. Cần câu chỉ đơn giản là một cái que cứng, dài chừng hơn một mét, chứ không phải là cái cần câu cong vút và mảnh mai như thường thấy.
Ba bày cho tôi trò chọi dế, thế là tôi lại say với trò này. Tôi tìm bắt dế dưới các đống rác, dưới các tấm tranh săng vương vãi đâu đó khắp nơi trên công trường. Dế này là dế chó, nhỏ hơn con dế sa. Dế chó thì có quanh năm, còn dế sa phải tới mùa thu mới có. Dế sa đào hang để ở, còn dế chó thì trốn trong chỗ kín và ẩm. Những con dế đực có vân xoắn trên cánh mới biết gáy và biết chọi. Thả hai con dế đực vào cái nắp hộp thuốc, lấy hoa cỏ may xoáy xoáy trên lưng thế là chúng xòe cánh lên, rung rung và cất tiếng gáy. Tiếng dế the thé, gay gắt, khiêu khích, thế là hai chú lao vào nhau kịch chiến. Hai miếng đánh chủ công là đá bằng càng, với những cái đinh nhọn và cắn, nhất là cắn đứt râu. Cũng có khi hai đối thủ chỉ nhìn nhau đã phân cao thấp, thì thôi không có kịch chiến.
Từ chơi dế tôi chơi tiếp sang châu chấu voi, rồi bọ ngựa. Một hôm nhốt chung bọ ngựa và châu chấu voi vào cùng một hộp, sáng ra chỉ còn những chân càng và cánh của châu chấu, mới hay bọ ngựa là giống ăn thịt. Cái đầu của nó bé tí thế, trông xinh xinh, mà ghê gớm thật.
Cuối hè thì sim chín, rồi tới móc, và có cả quả muồng nữa. Nhà tôi có cái phích nước bị vỡ, chỉ còn vỏ, tôi cột quai, đeo cái vỏ phích bên người đi lên đồi tìm sim, móc, muồng, có hôm còn hái được quả bứa. Hái ăn không hết thì bỏ vào vỏ phích mang về, ba mẹ cũng ăn, các cô chú trong cơ quan cũng ăn. Ba mẹ đi làm cả ngày, chẳng bao giờ trách cứ tôi vì chuyện lên đồi hái sim hay ra biển tắm.
… Cơ quan, cái từ hay gọi là thế, chứ không nói trại cũng không nghe nói bệnh viện – có nuôi một con chó, còn nhỏ nhưng khôn lắm. Tôi lang thang, gọi nó đi cùng cho có bạn. Khi tôi ném một hòn sỏi vào bụi là nó lao theo, lúc sau chạy ra mồn ngậm đúng hòn sỏi ấy. Tôi thử nó nhiều lần, lần nào nó cũng tìm được.
… Đến tết năm ấy thì ba cho tôi cái pháo diêm tự tạo bằng van xe đạp, có cột mấy cái lông gà. Nhồi diêm, thêm một chút tinh ở vỏ bao, ấn cái đinh sắt có gắn sợi cao su vào lỗ van, tung lên cao, đầu van có đinh rơi xuống, chạm đất là đinh thúc vào thuốc gây nổ. Nhưng là phải cho rơi nơi đất cứng, tốt nhất là sân nề, sân gạch.

19.
Lên lớp 2 là phải chuyển lên học ở Quỳnh lộc, nhưng tôi vẫn trọ nhà ông bà Ngọc. Rồi tôi bị sốt rét như có dịp đã kể ở trên. Sau khi điều trị hết sốt thì tôi đi từ nhà đến trường luôn vì thực ra ở trọ đi học cũng không gần hơn được mấy, chỉ cái là không phải qua truông qua đèo.
Tinh mơ tôi đã đi học. Tôi đi theo lối mòn, trong sương mù giăng mờ, chỉ thấy bên đường lúp xúp các bụi cây, rồi lên đèo, rồi xuống dốc, đường đi gập ghềnh lô nhô những hòn đá như cối như tảng giữa đường, rồi tới một chặng bằng phẳng qua trảng đất chai cứng như đá chỉ lưa thưa vài ba bụi cây nhỏ mọc lên trong các kẽ nứt, rồi đi dọc một con suối cạn chỉ toàn cát, qua tiếp một cánh đồng mà hai bên con đường quanh co mọc toàn những bụi duối dày đặc bịt bùng, rồi tới làng, đầu làng có một nhà nấu rượu, mùi rượu bay ra tận ngoài đường, rồi ra tới bờ lạch Cờn, qua tiếp một làng nữa thì tới trường. Ba tôi nói là bốn cây số, cả đi và về là tôi đi bộ tám cây số như vậy mỗi ngày.
Có hôm đang đi trên đèo, trông xa trong sương mù có con gì vàng vàng đang đứng bên đường lẫn một phần vào trong bụi cây. Như thường nghe kể, tôi mường tượng là hổ. Đã mường tượng vậy rồi mà tôi vẫn đi tiếp mặc dù sợ và bước rất dè dặt. Tới gần thì thấy là một cành cây ai bẻ ra vất vào bụi rồi héo vàng trong đó. Có hôm mưa, cái khe cạn toàn là cát thường ngày bỗng dâng nước lên cao, chảy xiết. Thế mà tôi vẫn lội dọc theo khe đúng tuyến như mọi hôm, để tới trường, chỉ có điều khi lội như thế tôi đã cởi truồng.
Có hôm đang đi trên chặng quanh co qua cánh đồng thì nghe có tiếng khóc nhưng không thấy người, đi tiếp nữa thì đột nhiên trước mắt, ngay khúc quanh những bóng người mặc áo dài trắng toát, mũ chóp nhọn cũng trắng toát hiện ra.  Sợ quá, đứng sững người, chết lặng. Họ đi qua, khóc ri rỉ. Mãi sau trấn tỉnh lại tôi mới nghĩ đó là những người ra viếng mộ mới ở gần đâu đó…
Trưa đi về dọc đường tôi thường rềnh ràng vừa đi vừa hái sim hái móc để ăn. Ăn rồi thì mồm lưỡi đen sì, tôi sợ về ba mắng nên lại vừa đi vừa súc miệng bằng nước bọt, rồi nhổ ra. Thấy nước bọt vẫn đen, lại súc, lại nhổ. Thế mà không dè thành thói quen nhổ nước bọt, khi không ăn sim ăn móc vẫn nhổ xoèn xoẹt, lâu lắm mới sửa được.

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

CÀ PHÊ MƯA XỨ HUẾ

      Quán nhà rường vắng lặng. Không gian thoáng đãng, vườn cây đẹp. Thời gian không hạn chế và giá rẻ bất ngờ.











Cà phê mưa, chờ bạn.











 Với bạn và cà phê mưa.











Một thoáng sum vầy.
     Rồi rủ nhau đi ăn bánh bèo, bánh ít, bánh bột lọc... Chao ôi, nhiều thứ lắm, cho thêm thương Huế - quê nghèo, lấy cái khéo, cái tinh thay cho cái khó, cái cực triền miên năm tháng. 
                         Tháng tư- 2011

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

RCYT: 87. DÙ DÌ

Đấy là đêm đầu tiên của tôi ở ngôi trường mà sau này tôi gắn bó. Tôi trải tấm ni lông lên sạp giường mà nằm vì chưa có chiếu. Có lẽ vì tấm ni lông rin rít dưới lưng, có lẽ vì lần đầu thấy rừng thâm u quá, cũng có thể vì bao điều xa lạ nên tôi không sao ngủ được. Ngoài trời tối đen, sương rơi từ trên tán cây cao xuống mái tranh lộp độp.
Gần tới nửa đêm thì có tiếng con gì nghe rợn lắm, trầm trầm, âm âm, u u: du di dù dì… du di dụ dị… Cái tiếng kêu âm u ấy khi gần khi  xa, có lúc ngỡ như sát vách, như đâu trên mái nhà, như trong bụi rậm. Mà nó kêu hoài, bí ẩn, ám ảnh, hù dọa. Rồi tôi thiếp đi lúc nào không hay. Chắc là tôi đã quá mệt mỏi sau chặng đường dài mấy chục cây số đi bộ.
Hôm sau tôi hỏi trò cái tiếng con gì mà ghê thế. Trò nói với tôi đó là con dù dì. Nó to như người mang tơi, biết bay như chim nhưng thường đi lò dò trong rừng tìm xác thối. Khi đói nó còn bắt các con vật. Nó mà mò về bản có khi còn bắt cả trẻ con… Nhiều đêm sau dù dì vẫn về kêu như thế. Tôi hỏi thêm nhiều người khác thì họ bảo học trò nó hù thầy đấy, chứ thực ra dù dì không to đến thế. Chẳng còn biết thực hư thế nào, chứ cái tiếng kêu rờn rợn của nó thì ám ảnh tôi hoài.
Phải nhiều năm sau nữa thì tôi mới đi săn đêm. Dọi đèn lên tán cây cao, nơi có tiếng dù dì, tôi thấy tinh mắt sáng xanh. Tiếng kêu ngừng bặt. Tôi kịp bóp cò. Thì ra dù dì cùng loài với cú, to chừng gấp ba lần. Cái mỏ to mà ngắn của nó gần như là thụt hẳn vào lớp lông mặt xù ra dữ tợn. Hai con mắt xanh lè sáng quắc. Đôi cánh dài nâu mốc ôm lấy thân như thể mang tơi…
Phải mất nhiều năm sau nữa tôi mới biết tiếng kêu du di dù dì rờn rợn ấy là tiếng gù tình ái của chúng. Đối với chúng đấy là những lời tâm tình đằm thắm ngọt ngào nhất, là tiếng lòng mê đắm gửi gắm cho nhau. 
Ôi thiên nhiên! Người có biết bao điều kỳ bí. Và tình yêu, ngươi còn kỳ bí hơn nhiều.