Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

LẠI BÀN VỀ HỌC TOÁN ĐỂ LÀM GÌ.


Vòng ngoài một chút. Đá bóng để làm gì? Để vui là chính, hầu hết là như thế. Để cho khỏe, một số ít hơn có nghĩ như thế. Một số ít hơn nữa, đá bóng để vừa vui, vừa khỏe, vừa nâng cao kỹ thuật, chiến thuật. Có người xem bóng đá như một thú đam mê. Còn xem đá bóng như là một nghề thì thực sự không nhiều. Trong số không nhiều đó, những người xem bóng đá như là một cơ hội làm giàu, một cách vinh thân thì lại càng hiếm.
Trở lại học toán. Có mấy ai để vui là chính mà lao vào học toán. Có mấy ai để giỏi toán mà học toán. Càng có mấy ai vừa để vui, vừa để giỏi mà học toán. Lại càng có mấy ai đam mê, mấy ai chọn toán là một nghề mà đến với toán. Và cuối cùng, thực sự chẳng có ai học toán vì giàu sang, vì vinh quang cả.
Vậy thì số đông, đến đa số, học toán từ lớp 1, thậm chí từ mẫu giáo đến lớp 12 thì để làm gì? Có người nói với tôi là để tính quỹ đạo các hành tinh, để lập trình máy tính… Đúng quá, nhưng mà có mấy phần trăm, hay mấy phần triệu người trên hành tinh này học toán để làm điều đó. Thế thì tuyệt đại đa số những người còn lại, đến cả giáo sư tiến sĩ, hầu hết không dùng sin, cos, log... vào đâu cả thì học toán để làm gì.
Thế mà trò phải học toán, ít nhất một tuần 5 tiết, đều đặn trong suốt 12 năm trời đằng đẵng. Đấy là chưa kể học thêm học nếm, học phụ đạo, học nâng cao, học luyện thi, học cấp tốc. Là chưa tính đến học tiếp lên đại học, rồi sau đại học, rồi lên lên nữa.
Trong khi đó hầu hết học trò đâu có thấy vui, đâu thấy hay gì môn toán. Nhiều trò còn thấy sợ, thấy ngán cái môn này. Chỉ vì không sao tránh được, đành phải cố mà học nó thôi. Ấy là phần trò.
Còn thầy dạy toán. Có bao nhiêu phần trăm, hay bao nhiêu phần nghìn, thầy dạy toán có được đam mê môn toán? Có được kỹ năng giải toán? Có được kỹ năng dạy toán? Không kể có thầy chỉ là thợ toán, cặm cụi giải xong nói hết là về. Lại cũng có thầy chỉ là làm xiếc, làm trò ảo thuật toán cho vui, cho mê để lấy đồng tiền một cách dịu êm chứ nào có hướng dẫn, nào có dạy cho trò tự giải một bài toán trong sách, càng không dạy cho trò tự giải một bài toán giữa đời.
Vậy, nên xét lại cái sự dạy và học toán. Dạy cái mà người học cần. Cần tới đâu, học tới đó. Đừng học cái gì xa xôi, phù phiếm, vô bổ. Đừng gây lãng phí thời gian, công sức, tiền của của học sinh, phụ huynh. Đừng bắt ai cũng phải học như ai, càng không thể bắt ai cũng phải giỏi toán. Mỗi người giỏi một thứ khác nhau, đã là tốt lắm rồi. Đương nhiên cũng không hạn chế những ai muốn học, đồng thời cũng nên khuyến khích, bồi dưỡng cho những trò thực sự có năng khiếu toán. 
Về phía nhà quản lý và biên soạn chương trình, không nên xem toán như thể là thứ cho có để lấp đầy thời khóa biểu, để bắt thầy phải dạy và trò phải học. Không nên cố tình nhồi nhét thêm ngoài chương trình những thứ mà suốt cuộc đời còn lại sau khi rời ghế nhà trường, người ta quên ngay tắp lự và thực sự không dùng tới nó một lần nào. Không nên coi dạy toán là một phương cách để tạo công ăn việc làm. Càng không thể xem dạy toán như là một phương tiện, một cơ hội để kiếm tiền.  
      Đây là lời bàn cuối cùng của tôi về đề tài này. Thành thực lòng mình. Có gì không phải xin bà con lượng thứ.


Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

TÔN GIÁO MỚI VỚI QUỀN LỰC VÀ QUYỀN LỢI. (phần cuối)



     11. Một điều dễ thấy là chủ thuyết duy vật thực dụng đã vô tình hạ thấp các giá trị văn hóa tinh thần. Nhiều giá trị văn hóa cả vật thể lẫn phi vật thể đã bị  đánh đổ hoặc bị tàn phá.
Đặc biệt khi người theo chủ thuyết đó lại có thế lực trong tay thì sự tàn phá càng nhanh chóng và khốc liệt. Nhiều giá trị văn hóa bị khép vào tội duy tâm, phản động. Các tôn giáo khác bị bài xích. Nhiều đức tin bị phá bỏ. Đa số dân chúng đã không còn theo tôn giáo nào, không có đạo. Mà đạo là con đường để đi. Không có con đường để đi dẫn tới mò mẫm, bế tắc. Ngay cả tôn giáo mới cũng đang dò dẫm, đang mày mò để tìm một lối đi. Trong khi chiếc cầu trở lại bến xưa đã bị đánh sập thì con đường phía trước vẫn chưa biết về đâu.
     Thời gian chưa nhiều từ khi TGM với chính quyền của nó lên ngôi nhưng cũng đủ để thấy đạo đức xã hội đã xuống cấp nghiêm trọng thế nào. Truyền thống nhân nghĩa, đạo lý, tình cảm, nếp sống bị đảo lộn. Triết lý duy vật thực dụng kích thích nhu cầu vật chất và các dục vọng tầm thường. Thói giả dối, tham lam, háo danh, ích kỷ, vô cảm, cùng các tệ nạn xã hội … hiện diện ở mọi nơi mọi lúc, từ chốn công đường, đến học viện, nhà trường, bệnh viện, từ thành thị đến nông thôn vùng sâu vùng xa.
     12. Môi trường tự nhiên bị xuống cấp, tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá nặng nề và bị khai thác cạn kiệt. Chỉ với vài chục năm mà rừng tự nhiên gần như không còn. Động vật hoang dã và những cây thuốc, những cây gỗ quý gần như tuyệt chủng. Đa dạng sinh học bị giảm sút nghiêm trọng. Đất, nước kể cả đại dương và không khí đều bị ô nhiễm...
   Những điều trên không chỉ là hậu quả của hệ thống quản lý và điều hành kém hiệu lực mà còn do sự thúc đẩy của một hệ ý thức duy vật thô thiển và thực dụng. Có thể những người sáng tạo ra hệ ý thức này không nghĩ như thế, nhưng số đông tăm tối khổ đau thì không thể nghĩ khác hơn. Mọi lý thuyết cao siêu chỉ dành cho một thiểu số tinh hoa, còn đại đa số dân chúng, nếu có được học cũng  chỉ hiểu phần thực dụng nhất. Ngay như toán học, là môn được học nhiều nhất từ phổ thông tới đại học, cả trên đại học và cũng là môn được dùng tới nhiều nhất, vậy mà có mấy ai hiểu được gì và áp dụng được gì ngoài bốn phép tính cọng trừ nhân chia. Hoặc giả là cách mạng, cái vừa là tính từ vừa là danh từ lại vừa là động từ này mấy ai đã hiểu được khác hơn cách hiểu của AQ: “cách mẹ cái mạng của nó đi”!
    Khi người ta sùng bái vật chất, người ta duy vật thì không còn sợ ma quỷ, không còn thành kính thần linh, người ta phá bỏ các giới luật, không tin vào nghiệp chướng, thì người ta cảm thấy tự do hơn, mạnh hơn, và người ta tàn bạo hơn, tham lam hơn. Người ta đã hành xử với nhau và hành xử với thiên nhiên theo lối đó. Và kết cục đã tới rất nhanh. Chỉ mấy chục năm thôi sức tàn phá đã bằng cả mấy thế kỷ.
      13. Vào thời điểm rực rỡ nhất, vinh quang nhất của TGM, người ta đã say sưa với chiến thắng. Ấy là lúc đánh đổ được kẻ thù một mất một còn, là lúc nắm lấy quyền lực và thâu tóm các lợi ích, là lúc người ta tuyên bố làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, là lúc lớn tiếng đòi chinh phục cái này cái kia kể cả chinh phục vũ trụ. Ấy là lúc mà TGM tỏ ra kiêu căng ngạo mạn nhất. Chưa có một tôn giáo nào như vậy. Có thể gọi đó là thói ngạo mạn CM.
    Thói ngạo mạn này làm cho người ta không dễ gì nhận ra những sai lầm, những lỗ hổng lý luận, hoặc những nghịch lý, những mâu thuẫn nội tại trong lòng một pháp, một học thuyết. Nhân loại đã phải cố gắng rất nhiều để khẳng định nhân cách, nhân phẩm, để nâng tầm Người lên trên cái dung tục tầm thường. Nhân loại cũng đã tìm cách để giải thoát mọi chúng sinh khỏi bể khổ trầm luân bởi tham sân si. Nhưng TGM lại đưa con người trở về với cội nguồn của khổ đau. Đấy là sự chế ngự của của cải vật chất, của tham lam thù hận, và tàn bạo hơn là của sự đối kháng không cùng bất chấp thủ đoạn và bạo lực.
    Ngạo mạn và thủ đoạn là điều mà giáo chủ của TGM có thể đã không nghĩ tới. TGM và quyền lực cũng là điều mà các giáo chủ có thể cũng đã không nghĩ tới. Miếng bánh quyền lực và quyền lợi sẽ được chia không đều có thể cũng là điều mà  giáo lý cũng đã không tính tới. Các thánh tông đồ và các giáo dân của TGM đã vấp phải cái kết cục đó. Cùng với sự tha hóa bởi chiếm hữu thì ngạo mạn và thủ đoạn sẽ là nghiệp chướng của TGM, của mọi tín đồ và của cả nhân loại lầm than. Một kết cục tất yếu sẽ đến, đó là sự phát động một cuộc thánh chiến mới của những người lao khổ với tầng lớp địa chủ tư sản mới (TB đỏ) theo cái kiểu TGM đã tiến hành. Hoặc là, khôn ngoan hơn, đó là sự rút lui lặng lẽ của TGM.
    Một tôn giáo khác đã manh nha, không gắn với một học thuyết một giáo lý nào, cũng không có giáo chủ. Đấy là đồng tiền. Đồng tiền là tiên là Phật, là … Có vẻ như tôn giáo này ôn hòa hơn, không có tuyên chiến bạo lực. Nhưng đồng tiền cuối cùng cũng chỉ là chỉ số của lợi ích. Mà vì lợi ích thì bất chấp thủ đoạn. Vậy thì,  ĐỒNG TIỀN xem ra cũng chỉ là biến tướng của TGM, của chủ thuyết “vật chất quyết định ý thức” mà thôi. Một vòng xoáy khác, một chu kỳ mới lại tiếp diễn. Nhân loại sẽ còn lầm than biết bao nếu không đoạn tuyệt được nó.
       14. Như một phép thử, một bộ phận không nhỏ nhân loại đã chọn TGM, và dần dà đã nhận ra mình nhầm giữa một tôn giáo và một thể chế, giữa giáo hội và quyền lực, giữa giáo lý và quyền lợi. Đồng thời nhân loại cũng đã tìm ra một giải pháp cho trật tự và công bằng xã hội, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự và thể chế dân chủ. Trong đó “mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những giá trị phổ quát nhất của nhân loại đang dần hình thành và từng bước được phổ cập. Những mô hình của nó đang rõ nét dần và phần đông nhân loại đang hướng tới. Phần đời có như vậy, tạm coi là được, dẫu cho còn lắm chông gai.
     Dẫu sao thì kiếp nhân sinh vẫn không tránh khỏi khổ đau. Có những khổ đau mà cái gốc ở ngay trong tâm mình. Vì vậy cần có phần đạo nhằm trì kiến tu tập để tự giải thoát, cũng là một cứu cánh. Và thành tâm cầu nguyện nhằm tới sự cứu rỗi cũng là một cứu cánh không tồi.
    Đạo và đời cùng song hành. Nhưng tôn giáo và quyền lực đừng để song hành. Tôn giáo giảỉ thoát nhân sinh, cứu vớt chúng sinh. Tôn giáo không nên dùng quyền lực để áp chế chúng sinh, càng không thể dùng quyền lực để giành dật lợi ích cho riêng mình. Tôn giáo không nên để tha hóa cùng quyền lực.
     Nếu lại có một TGM, hãy xem xem nó có gắn với quyền lực hay không, và quyền lợi nếu có thì sẽ thuộc về ai.
    



Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

TÔN GIÁO MỚI VỚI QUYỀN LỰC VÀ QUYỀN LỢI -(Tiếp theo)


     6. Các vị giáo chủ của TGM đã nhầm khi cho rằng diệt được đối thủ một mất một còn rồi thì mình sẽ thánh thiện hơn, sung sướng hơn. Nào hay nghiệp chướng lại ập đến. Trước hết là phép chia số học thực hiện không đều. Những kẻ ranh mãnh và những kẻ quyền thế đã nhận về mình miếng bánh to hơn. Không những thế chúng còn toan tính bao mưu mô thủ đoạn, kể cả việc tận dụng TGM để giành miếng bánh ngày một to thêm nữa. Những kẻ cả tin, ngây ngô chân thật, hoặc quá chậm chân, ít thế lực đành âm thầm chấp nhận thua thiệt, chưa kể những người đã hy sinh trong cuộc chiến. Mâu thuẫn xã hội lại nẩy sinh và ngày thêm sâu sắc, nhất là khi những kẻ giàu có mới nổi và những kẻ cầm quyền trở nên tha hóa sa đọa biến chất. Nạn tham nhũng trỗi dậy và ngày càng trắng trợn. Những người bị thua thiệt cũng phải tìm cách oằn lên. Dần dà mọi người đều có tâm lý sẵn sàng chặt chém lẫn nhau khi có thể ngõ hầu tìm một chút cân bằng tối thiểu nào đó. Từ những người nông dân chân chất, đến những người trong nghề y, nghề giáo, đến các công chức công quyền, đến các dịch vụ văn hóa du lịch... không ở đâu là không nghĩ tới chém chặt. Văn minh phong bì, tham nhũng và tâm lý chém chặt là sản phẩm tất yếu của TGM và hậu chiến một mất một còn.

     7. Mấy chục năm sau chiến tranh, sau khi chính quyền đã về tay những người vô sản, chính xác hơn là vào tay những người đại diện của họ, thì người vô sản thực sự vẫn trắng tay. Nhân loại cần lao vẫn lao khổ, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần. Họ thấy rõ bất công, thấy bị lừa gạt, thấy những hy sinh mất mát và cả đức tin của họ đã bị kẻ khác lợi dụng. Máu của họ chưa khô mà kẻ thù trực tiếp của họ, bây giờ lại được đồng đội ngôi cao của họ cho là bạn, thậm chí là bạn tốt, nhiều lần tốt, là đối tác chiến lược. Họ thì mất hết, còn đồng đội ngôi cao thì cho con tới cái chỗ vốn là kẻ thù, để học. Và tất nhiên số đông,- không chỉ trong chốn cần lao- bị rơi vào khủng hoảng lòng tin. 
Khi đó họ lại phải tìm về những tôn giáo truyền thống, về với Đức chúa trời, về với Phật, với thần linh, với tổ tiên ông bà. Có người còn tin theo và nhờ cậy đến cả những trò mê tín dị đoan vớ vẩn.

      Chưa bao giờ như mấy chục năm lại đây, các trò mê tín dị đoan trỗi dậy như nấm sau mưa. Cũng chưa bao giờ thấy nhà thờ, chùa chiền đền miếu sau khi bị đập phá tan tành thời duy vật ấu trĩ- cái thời “một mo cơm, một quả cà, một tấm lòng cộng sản; thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn”- đã lại được tu sửa nâng cấp và xây mới nhiều như lâu nay. Đến cả lăng mộ cũng đua nhau nâng cấp, xây mới ngày một to cao, cầu kỳ tô vẽ, bất chấp suy thoái kinh tế và suy thoái đạo đức ngày càng trầm trọng.
8. Cái pháp, hay giáo lý bạo lực của TGM, có thể vô tình nhưng đã tròng một cái vòng kim cô lên giáo phái mình, lên dân tộc mình, nhân dân mình. Ấy là món nợ viện trợ vũ khí và các trang thiết bị chiến tranh.
     Đã dấn sâu vào mâu thuẫn đối kháng, đã một mất một còn, đã chọn giải pháp đấu tranh vũ trang thì những người theo TGM phải có vũ khí khí tài. Muốn có thì phải mua, vì mình lạc hậu không làm ra được. Vì nghèo, không đủ tiền mua thì phải xin, phải vay. Vay thì phải trả, kể cả xin không thì vẫn phải có cái giá của nó. Và đấy là cái vòng kim cô tròng lên đầu chúng ta.
     Cái vòng kim cô ấy mỗi lần siết vào là một lần đau. Đau trong CCRĐ, đau trong NVGP, đau trong CTCTN, đau trong chia cắt hai miền, ở Mậu thân, ở thành cổ Quảng trị...Rồi đau ở biên giới tây nam, biên giới phía bắc, ở Hoàng sa, Trường sa, ở thác Bản Giốc…
    Chiến tranh qua rồi, mà vòng kim cô vẫn không tháo ra được. Không những thế, bạo lực vẫn được xem như là cứu cánh của TGM. Nó đồng hành cùng TGM. Thế mới hay cái họa khôn cùng của giáo lý bạo lực CM ngoại lai này.
      9. Ngược lại, theo một hướng khác, các pháp của TGM cho rằng KHKT phát triển, năng xuất lao động ngày một tăng, sản phẩm xã hội ngày một nhiều rồi thì là nhu cầu của mọi người dân sẽ không ngừng được cải thiện, để đến một khi hoàn toàn thỏa mãn, đảm bảo “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Khi đó không còn tranh chấp, không còn áp bức, không còn khổ đau và thế giới sẽ đại đồng. Màu hồng đã được tô lên, một tương lai xán lạn được vẽ ra hết sức hấp dẫn.  
     Số đông tin là như vậy, dù cho đã có cảnh báo ngược lại trong thuyết nhân mãn. Nhưng số đông đói khổ nào có biết cái thuyết đó. Họ chỉ biết mình đang đói khổ, đang cần cơm ăn áo mặc. Hơn nữa, họ cần sung sướng, cần một tương lai tươi sáng. Các pháp vật chất đã đánh trúng tâm lý của họ. Tiếc thay, khi thắng cuộc rồi họ mới biết của cải vật chất rất có giới hạn mà lòng tham thì không cùng. Thỏa mãn nhu cầu vật chất và hoàn toàn bình đẳng về sở hữu, nhất là sở hữu quyền lực và quyền lợi là điều không tưởng. Nhận ra thì máu đã đổ. Thực tế tàn khốc của thế kỷ qua một lần nữa cho hay cái giá phải trả cho các pháp thiên về vật chất thực dụng này. Cũng là cái giá quá đắt cho một đức tin mù quáng, hoặc một cái vô minh đã bị lợi dụng.
      10. Tôn giáo mới có một đặc điểm khác với các tôn giáo khác là nó rất thực dụng. Không chỉ vì nó trung thành với pháp duy vật mà nó còn hiểu sâu sắc và biện chứng về quyền lợi và quyền lực. Những chức sắc của tôn giáo này không bỏ lỡ cơ hội khi có thể nắm lấy những cái đó. Họ tận dụng uy thế trong giáo hội để nắm lấy quyền lực  và dùng quyền lực để thâu tóm các lợi ích. Và vì lợi ích họ đã bất chấp thủ đoạn.
      Một thuật ngữ mới được đưa ra, có vẻ không dính dáng gì tới vật chất, ấy là chính trị. Mà chính trị là gì, chính trị suy cho cùng là quyền lợi. Ban đầu là quyền lợi của cộng đồng, của đại đa số đồng bào theo lý thuyết, rồi biến tướng thành lợi ích nhóm, lợi ích đảng phái, lợi ích cá nhân khi khả dụng.
     Tha hóa của quyền lực là chuyện muôn thuở. Nhưng nếu quyền lực lại được khuyến khích bởi duy vật thực dụng  và lợi ích vật chất thì sự tha hóa càng trở nên trầm trọng, nhất là khi nó được hậu thuẫn bởi một tôn giáo, đặc biệt là một tôn giáo độc tôn. TGM dùng mọi lý lẽ, mọi hình thái tổ chức của giáo hội, thậm chí cả sức mạnh của quyền lực để che chắn, để bảo vệ lợi ích của chính mình và bảo vệ lẫn nhau.
     Ở đây, trong cái TGM này không có pháp về giới, không có các quy tắc để chế ngự các thói hư tật xấu vốn có trong mọi thành viên. Họ không phải hy sinh một điều gì cả, càng không phải xuất gia hành đạo. Ngược lại họ có quyền lực, có sự hậu thuẫn của giáo hội cầm quyền, và họ thực chất có đặc quyền. Chính vì thế mà sự tha hóa càng trở nên nhanh chóng và trầm trọng.

Còn nữa

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

TÔN GIÁO MỚI VỚI QUYỀN LỰC VÀ QUYỀN LỢI

1. Kiếp nhân sinh chìm đắm trong khổ đau và từ ngàn xưa loài người đã ước mong làm sao tránh được khổ đau, hoặc vượt qua khổ đau. Nhưng không tránh được, không vượt qua được, khổ đau vẫn đeo bám con người, đeo bám mọi chúng sinh. Bởi vậy mà con người đã phải trông chờ nhờ cậy đến thần linh, đến trời đất, đến ông bà, tổ tiên phù hộ độ trì. Để lời thỉnh cầu của mình đến được chốn linh thiêng con người phải thành tâm lễ bái. Từ đấy mà thành ra tín ngưỡng, hơn nữa dần dà thành ra tôn giáo.
   Tôn giáo ra đời nhằm chở che và cứu vớt chúng sinh khỏi kiếp trầm luân, khổ đau tội lỗi. Để tạo được niềm tin này, mỗi tôn giáo phải có ba ngôi tam bảo, ấy là giáo chủ, giáo lí và giáo sĩ, giáo dân. Như với Thiên chúa giáo là Đức chúa Giê su, kinh thánh và các giới chức từ các thánh tông đồ đến đức giáo hoàng, tới các cha và giáo dân. Còn như với phật giáo thì có đức phật Thích ca, các pháp và Bồ tát, La hán đến đại đức, thượng tọa cho tới tăng ni phật tử. Người theo đạo Thiên chúa thì tin tưởng và trông cậy vào đức Chúa trời và các lời dạy của Người thông qua các cha và các giáo sĩ mà giốc lòng cầu nguyện và sám hối. Người theo đạo Phật thì noi theo tấm gương của đức Thích ca, vịn vào phật pháp qua sự truyền đạt của các vị đại đức mà trì kiến tu tập nhằm tự giải thoát cho mình khỏi mọi khổ đau. Thậm chí các tín chủ còn phải chấp nhận rời bỏ gia đình, nhất tâm trì giới, tinh tấn định tuệ, phổ độ chúng sinh. Nếu nói là hy sinh thì quả thực không thể nào kể xiết. Các tôn giáo khác như đạo nho, đạo Lão, đạo Hồi ...tôi tin cũng đều như vậy.
     Thế nhưng, sau hơn hai ngàn năm có đạo loài người vẫn chìm đắm trong khổ đau và tội lỗi. Con người vẫn thấy bế tắc. Con người sinh hoài nghi. Không ít người đã không còn tin vào trời đất, thần linh, không còn tin vào Đức Chúa trời và kinh thánh càng không tin ở các cha, hoặc không còn tin vào Đức Phật và phật pháp, vào các tăng ni, và nhất là không tin vào chính bản thân mình.
     Đến một lúc nào đó có người cho rằng tất cả những tôn giáo tín ngưỡng ấy chỉ là duy tâm, siêu hình. Rồi người ta tìm ra cái thuyết ngược lại, ấy là duy vật, và hơn nữa là duy vật biện chứng. Cái “vật chất” ở đây là vật chất sờ mó nhìn ngó... được (nó là vật chất thô chứ không phải là vật chất mịn). Có lẽ là trong đói khổ thèm khát, xen lẫn với thói tham lam ích kỉ và vô minh của hầu hết chúng sinh, cái “vật chất” ấy đã được tôn sùng đẩy lên đến mức “quyết định ý thức”. Cái ý thức bị vật chất quyết định ấy kết hợp với suy diễn ngôn từ đã nhanh chóng trở thành học thuyết. Những người tin theo học thuyết đó đã tôn những người sáng tạo ra nó như là giáo chủ, còn họ mặc nhiên trở thành những tín đồ. Những tín đồ nhạy bén tiếp thu và tích cực quảng bá nhất đã trở thành giáo sĩ. Và một tôn giáo mới (TGM) đã xuất hiện với đầy đủ ba ngôi tam bảo.
  2. Tôn giáo này, với pháp “duy vật biện chứng” đã lấy sự tích lũy và sở hữu của cải vật chất trong đó có TLSX làm thước đo để phân biệt giàu nghèo, phân biệt giai cấp. Một giai cấp mới xuất hiện, có tên là giai cấp vô sản, được hiểu là tập hợp những người không có TLSX. Các thành phần giai cấp khác lần cũng lượt được đặt tên: tư sản, tiểu tư sản, tiểu nông, tiểu chủ, địa chủ, đại địa chủ…
    Cũng vì duy vật mà người ta đề cao của cải vật chất, ngầm hiểu giàu có về vật chất thì sung sướng và ngược lại.  Rồi họ lý giải sự giàu có là từ bóc lột và sự nghèo khó là vì bị bóc lột. Rồi sinh áp bức giai cấp và mâu thuẫn giai cấp. Mâu thẫn ấy được đẩy đến mức đối kháng. Cuối cùng là phải giải quyết mâu thuẫn đối kháng bằng đấu tranh một mất một còn. Đã là một mất một còn thì chỉ có cách sử dụng bạo lực - đấu tranh vũ trang.
     TGM không chỉ đã được số đông những người nghèo khổ tin theo hưởng ứng mà những kẻ không phải nghèo khó nhưng đã nhạy bén thực sự giác ngộ về vật chất còn nhận ra từ đây - ở cái giáo lý này- sự phân chia không đồng đều về tài nguyên thiên nhiên, về nguồn nhân công rẻ mạt, và về các xứ thuộc địa. Các thế lực mới nổi và các đế quốc hùng mạnh đã xung đột khốc liệt bởi cái thứ sở hữu đó. Thế kỷ 20 với hai cuộc đại thế chiến cùng với những cuộc chiến triền miên khác  là hệ quả tất yếu của TGM mà môn đồ có thể ở cả hai phía giàu nghèo, bóc lột và bị bóc lột, với các cách nhận thức hoặc suy diễn vận dụng khác nhau. Cho dù là vì bên nào, hay vì cả hai thì với cái kết cục bi thảm của nó, chỉ có  thể nói rằng thế kỷ 20 là một trong những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.

     3. Trong các cuộc chiến đó thì cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn thường mang màu sắc thánh chiến nhiều hơn là một cuộc cách mạng như người ta thường gọi. Ở đây không rõ tính tất yếu của một SSXTT buộc phải dẫn tới sự thay đổi một PTSX , cũng không rõ một cuộc đại biến đổi (CM) ở các nước sản xuất phát triển như giáo lý đã nêu. Mà ta thấy ở đây, (dù danh nghĩa là duy vật )- hoàn toàn là một sự trông cậy vào sức mạnh tinh thần, một ý chí kiên cường mù quáng để tiến hành cuộc thánh chiến một mất một còn. Các điểm tựa tinh thần đã được vận dụng gồm:
- Tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập dân tộc.
- Giác ngộ sự bần cùng là vì bị áp bức bóc lột, khoét sâu mâu thuẫn và lòng căm thù đế quốc phong kiến.
- Hứa hẹn một tương lai tốt đẹp, gây dựng một sự kỳ vọng, thậm chí một đức tin mới vào TGM và vào tương lai.
- Và nữa là lòng tin ở tính chính nghĩa của “cuộc chiến thần thánh”cùng với sự khéo léo kích động của chủ nghĩa anh hùng CM.
     Thực tế cho thấy những người theo TGM đã thắng trong cuộc thánh chiến này. Điều đó chứng tỏ sức mạnh tinh thần, đặc biệt là tinh thần yêu nước to lớn biết nhường nào, dù cho chủ thuyết của TGM thiên về duy vật, thiên về sức mạnh vật chất.

     4. Từ giữa thế kỷ 20 nhân loại đã nhận ra kết cục tàn khốc của những cuộc chiến này nhưng phải tới cuối thế kỷ phần đông nhân loại mới nhận ra những điều bất ổn, những mâu thuẫn sâu sắc của thời hậu chiến. Giờ thì người ta đã nhận thấy giáo lý của tôn giáo này phiến diện, quá nghiêng về cái sự phân chia giàu nghèo qua tích lũy vật chất thô theo lối thực dụng tầm thường. Có thể đây là phát kiến mới, cũng có thể đây là cái tâm lý thực dụng thuần túy châu Âu khi chưa có sự giao thoa rộng rãi với các nền văn hóa khác, nhất là văn hóa phương Đông. Phương Đông không phải không coi trọng vật chất nhưng phương Đông không đẩy nó lên tới mức “quyết định ý thức”, nhất là với vật chất thô. Phương Đông, đặc biệt qua giáo lý nhà Phật quan niệm khổ đau không chỉ vì thiếu thốn vật chất mà cơ bản là vì tham sân si. Phương Đông quan niệm “Giàu có ba hạng khác nhau về của- qua kiến giải của Tản Đà- Một thứ của là của ở trên đời.... Một thứ của là của ở trong sách... Một thứ của là của ở trong mình...”. Vậy thì giàu có đâu có phải chỉ nhờ bóc lột, ngược lại nghèo khó tối tăm thù hận đâu chỉ vì bị bóc lột. Chưa nói người giàu có về vật chất đâu phải đã là sung sướng.
     Thứ nữa là cái cách con người ta tiếp nhận một giáo lý, một học thuyết. Bởi vì vô minh, bởi vì tham lam và sân hận, dù cấp độ có khác nhau, mà con người chỉ có thể nhận thức được cái phần thô, cái chỗ thực dụng nhất của các giáo lý, trong đó có giáo lý về “vật chất quyết định ý thức” của TGM.
     Vậy nên cái thuyết duy vật cũng đã được hiểu ở phần thô nhất, thực dụng nhất của nó, ấy là cái chỗ của cải vật chất sờ mó nhìn ngó được, chiếm đoạt được, sở hữu được. Và mọi cố gắng, mọi toan tính, mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực cũng chỉ để nhằm tới cái chỗ đó.     
5. Dẫu vậy cũng phải thừa nhận rằng tôn giáo mới đã thu hút được số đông những người lao khổ tin theo. Nhiều người khác không ở ngưỡng đói nghèo nhưng vì đồng cảm với  số đông lao khổ cũng đã tin như vậy. Họ làm phép tính số học giản đơn: nếu chia đều của cải nhân loại thì không còn ai nghèo đói nữa. Nhưng làm sao chia đều được. Sau vô vàn những lý luận, những triết thuyết đã dẫn tới kết cục là phải tiến hành cuộc chiến một mất một còn. Rồi sau bao máu xương của chiến cuộc, phép chia số học lại vẫn không đều. Kẻ thua cuộc đã đành, kẻ thắng cuộc cũng vậy. Không đều không phải do lý thuyết toán học mà không đều do tham sân si ẩn chứa trong mọi đối tượng, kể cả bên thắng cuộc. Không đều cũng vì do quyền lực không thể chia đều. Mà điều này thì người ta lại không tính đến khi làm phép chia số học. Và đây lại là một một lỗ hổng của thượng tầng tam bảo, là điều mà các pháp duy vật không để ý tới cho dù đã nỗ lực biện chứng.


Còn nữa

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

SAU MÙA XUÂN 75 -(phần cuối)

Sau mùa xuân 75
cho tới bây giờ đã mấy mươi năm
một nửa nỗi đau chìm vào quên lãng
một nửa nỗi đau nhấc lên đặt xuống
mà đau thương lại càng đau
có hay gì da thịt xáo nhau
nhắc đi nhắc lại
có vinh quang gì huynh đệ tương tàn
ngợi ca mãi mãi
vui ai mà xót lòng ai
đã mấy mươi năm cuộc chiến qua rồi
đất bằng im tiếng súng
đây đó đã an bài số phận
đã thôi chia cắt hai miền
sao còn chia cắt hai bên

                                                                2/5/2011

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

VỀ CHỐN XƯA

Về chốn xưa
Có ai đó mình đành tránh mặt
Dẫu rằng mình chẳng làm gì
Nhưng mà thôi
Đừng để hắn thêm một lần hằn học

Về chốn xưa
Có kẻ khẽ khàng thưa thốt
Hậu sinh không biết 
Chuyện ngày xưa cha chú ra sao

Về lại chốn xưa 
Lòng bỗng nghẹn ngào
Ai đó ôm lấy mình mà khóc
Rồi lau nước mắt
Nhìn nhau bạc tóc mà vui

Lặn lội tha phương già nửa cuộc đời
Có được mấy lần trở về chốn cũ
Nên chi mong lành tránh dữ
Men bờ dâu bể mà đi
                             28/7/2013

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

ĐỪNG TAN MUỐI ƠI

      Chưa về Sa huỳnh, chưa được cầm trên tay hạt muối Sa huỳnh mà đã thấy như là mình đã ở Sa huỳnh vậy. Gần nửa thế kỷ trước tôi đã từng bị ám ảnh bởi hạt muối Sa huỳnh trong câu thơ của Thu Bồn: "Đừng tan muối ơi chất mặn Sa huỳnh...". Bây giờ thì cháu tôi về làm dâu Sa huỳnh, bỗng dưng tôi lại nhớ về câu thơ cũ...
      Hạt muối Sa huỳnh bởi nhiều nắng gió, bởi nhiều chất mặn - mặn hơn cả muối, mà kết tinh thành những tinh thể lập phương trong veo có kích thước lạ thường. Đem những tinh thể lạ thường đó mà khéo léo sắp xếp bên nhau, chồng chất lên nhau như là ta xây, như là ta làm tranh đá quý với chất kết dính là chính nước muối bão hòa, chúng ta có thể có đền tháp, có chùa chiền, có cảnh làng quê cây đa bến nước, có các bức phù điêu hay tác phẩm nghệ thật, và có những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hoặc là một món quà lưu niệm xinh xinh...
       Chúng ta có thể nhuộm màu cho muối, có thể nhuộm màu ngay từ nước chạt, để sản phẩm làm ra lung linh hơn. Có thể đưa thêm ánh sáng vào để chúng càng thêm huyền ảo. Để rồi như đâu đó có lễ hội băng đăng, Sa huỳnh sẽ có hội diêm đăng.
       Chỉ cần hai bàn tay khéo léo sắp đặt, chỉ cần một tấm lòng yêu mến Sa huỳnh là chúng ta sẽ có những tác phẩm nghệ thật tạo hình, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ muối. Chỉ cần cách ly với hơi ẩm, chúng ta sẽ có tác phẩm bền vững mãi với thời gian và mang đậm bản sắc Sa huỳnh, bản sắc xứ Quảng, một miền nắng gió sâu đậm tình người. 
      Đừng tan muối ơi, hãy kết tinh lại bên nhau để làm nên biểu tượng mới của Sa huỳnh.
      Tôi tin sẽ có một ngày về được nơi này. Tôi tin sẽ có một ngày người bạn mới có tên là Chúc sẽ đem tới cho tôi một món quà làm từ hạt muối Sa huỳnh. Và tôi tin tới khi đó mọi người tới Quảng ngãi sẽ thêm nhiều xúc cảm về mảnh đất mặn mòi nắng gió.
          19/7/2013